.
[TV] Giáo dục Hoa Kỳ - Đại học

Hệ thống giáo dục đại học Hoa Kỳ
Vann Phan



Với hơn 3,000 trường cao đẳng và đại học cùng với các chương trình học có tính cách thực dụng tại Hoa Kỳ, việc chọn một trường hoặc một chương trình học thích hợp là một tiến trình không phải lúc nào cũng dễ dàng đối với sinh viên, nhất là các sinh viên đến từ một nền giáo dục khác với nền giáo dục Hoa Kỳ. Các học viện và chương trình học này bao gồm các trường dạy sinh ngữ, các trường cao đẳng (đại học) hệ 2 năm, các trường cao đẳng và đại học truyền thống, cùng với các trường kinh doanh và kỹ thuật.



Khái quát về hệ thống giáo dục đại học Hoa Kỳ
Ngày nay, trung bình có hơn 400,000 sinh viên không phải là thường trú nhân hiện đang theo đuổi học vấn bậc đại học tại Hoa Kỳ. Họ đến từ hầu hết các quốc gia trên thế giới, và dĩ nhiên là mỗi sinh viên thuộc loại này đều có các mục tiêu giáo dục riêng của họ.

Tại Hoa Kỳ, có nhiều loại trường ở cấp đại học với các tên gọi khác nhau, nhưng tất cả đều là những trường dạy các môn học thuộc trình độ sau bậc trung học (post-secondary education), đó là các college, university, vocational school và technical school.

Loại giáo dục đại học hoặc cao đẳng mà tại Hoa Kỳ gọi là post-secondary education gồm các chương trình học và bằng cấp sau:
. Các junior college, community college và technical college cấp văn bằng Associate's degree (Cao đẳng 2 năm).
. Các undergraduate college hoặc undergraduate university cấp văn bằng Bachelor of Science (B.S.), Bachelor of Arts (B.A.).
. Các graduate school (thuộc các trường university) cấp văn bằng Master of Science (M.S.), Master of Arts (M.A.), Master of Business Administration (M.B.A.) và Doctorate (Ph.D.).


College sánh với university
Thông thường, một trường college có thể dạy chương trình 4 năm đại học để lấy bằng Bachelor's degree (Cử nhân) hoặc cũng có thể dạy chương trình 2 năm đại học để lấy bằng Associate's degree (Cao đẳng 2 năm) như tại các trường community college (đại học cộng đồng), vẫn thường được xếp vào loại trường junior college. Một trường university có thể bao gồm nhiều college (tỉ dụ, college of medicine: đại học y khoa; college of engineering: đại học kiến tạo).

Một trường university thường có chương trình 4 năm đại học thuộc hệ undergraduate education là hệ giáo dục gồm 4 năm đại học cùng các chương trình thuộc hệ graduate education dành cho sinh viên đã có bằng Bachelor's degree học lên nữa. Trong hầu hết mọi trường hợp, bằng Bachelor's degree do một trường college cấp không khác gì bằng Bachelor's degree của một trường university cả. Vì vậy, tại Hoa Kỳ, từ ngữ college và university hầu như giống nhau.

Vocational school và technical school
Các trường vocational school (trường hướng nghiệp) và trường technical school (trường kỹ thuật) dạy những nghề và kỹ năng như thư ký, cơ khí xe hơi, nhiếp ảnh, điều dưỡng, vân vân.



Các chương trình học và các trường đại học có tính cách thực dụng tại Hoa Kỳ

1. Các chương trình học Anh ngữ
Mỗi năm, trung bình có tới 100,000 sinh viên quốc tế đến Hoa Kỳ để học Anh ngữ. Một số học Anh ngữ để chuẩn bị theo học tại các trường college hoặc university ở Hoa Kỳ, số còn lại học Anh ngữ để nghiên cứu về văn minh, văn hóa và xã hội Hoa Kỳ. Còn một số khác nữa thì học Anh ngữ nhằm cải thiện khả năng hiểu và nói tiếng Anh cần thiết cho việc thăng tiến nghiệp vụ của mình.

2. Các trường community college
Ngày càng có nhiều sinh viên quốc tế ghi danh theo học tại các trường community collge (đại học cộng đồng) là nơi cung ứng việc giáo dục trong hai năm đầu của một chương trình 4 năm đại học tại Hoa Kỳ. Ðối với đa số sinh viên đến từ nước ngoài, đây là một bước chuyển tiếp quan trọng - và cũng có thể được coi là khôn ngoan - trong kế hoạch theo học chương trình 4 năm đại học của mình, bởi vì học trình (trong hai năm đầu của chương trình 4 năm đại học) tại các trường community college thường có phần nhẹ nhàng và ít căng thẳng hơn là học trình tại các trường college hoặc university truyền thống. Sau hai năm theo học tại community college, sinh viên dễ dàng chuyển đổi (transfer) sang học tại các trường college hoặc university để tiếp tục chương trình 4 năm đại học tại đây, và sinh viên chỉ phải học thêm 2 năm cuối tại trường mới mà thôi nếu đã lấy đủ các tín chỉ đại học (credits) thuộc 2 năm đầu tại trường community college.

3. Chương trình M.B.A. (Cao học quản trị kinh doanh)
Các sinh viên bản xứ hoặc sinh viên du học có thể theo học chương trình M.B.A. tại các graduate school trong các trường university ở Hoa Kỳ. Văn bằng M.B.A. (viết tắt của Master of Business Administration: Cao học quản trị kinh doanh) từ các trường đại học Hoa Kỳ được khắp thế giới nhìn nhận và đánh giá cao trong nền thương mại và kinh doanh quốc tế nhờ vào phương pháp giảng dạy cũng như kỹ thuật hàng đầu do các trường đại học nầy cung ứng cho sinh viên theo học.


Nguồn: nguoi-viet.com

371302 top -

Các loại trường đại học Hoa Kỳ
Vann Phan



Nhiều người cảm thấy bối rối không hiểu các từ ngữ college, university, institute và ngay cả school nữa khác nhau như thế nào mà vẫn thấy được dùng gần như lẫn lộn và đồng nghĩa với nhau để nói tới một học viện cấp văn bằng bậc đại học tại Hoa Kỳ. Sự thật thì, tại Hoa Kỳ, college và institute không hề kém giá trị so với university. Trong phạm vi các colleges và universities, sinh viên có thể tìm thấy các schools, tỷ dụ như school of arts and sciences (phân khoa/trường dạy các ngành nhân văn và khoa học) hoặc school of business (phân khoa/trường kinh doanh). Mỗi một phân khoa/trường như vậy trong một college hoặc university chịu trách nhiệm giảng dạy một số các chương trình học hoặc môn, ngành có cấp bằng hẳn hoi cho sinh viên theo học.

Nhìn chung, có 4 loại trường cấp đại học để cho sinh viên học lên sau khi đã học hết bậc trung học tại Hoa Kỳ:


1. University
Là một học viện bậc đại học (higher learning) thường có các chương trình học kéo dài 4 năm dẫn tới bằng Bachelor's degree (cử nhân) thuộc các ngành nhân văn hoặc khoa học (BA hoặc BS). Thêm vào đó, một university thường cũng có các chương trình sau bậc cử nhân dẫn tới bằng Master's degree (cao học), hoặc Doctorate (tiến sĩ).

Trong hệ thống universities còn có các State Universities là các trường đại học được chính phủ cấp tiểu bang tại Hoa Kỳ (tỉ dụ như Georgia, California, hoặc Michigan) thành lập và tài trợ nhằm cung ứng việc giáo dục giá hạ cho các cư dân trong tiểu bang. Các trường này có thể được gọi là public universities (đại học công) để phân biệt với các trường private universities (đại học tư). Các trường state universities (đại học công tiểu bang) thường rất rộng lớn, với sĩ số có khi lên đến 20,000 sinh viên hoặc nhiều hơn thế nữa và thường thu nhận nhiều loại sinh viên hơn là các private universities (đại học tư). Học phí tại các trường state univesities này thấp hơn là tại các trường private universities.

Các Private Universities được tài trợ bằng một liên hợp các nguồn tài chánh gồm quỹ hiến tặng (endowments), học phí do sinh viên đóng, tiền cấp cho công trình nghiên cứu, và quà tặng của các cựu sinh viên của trường. Lệ phí đóng cho các môn học tại các đại học tư thường là cao hơn tại các đại học công, nhưng không có sự phân biệt về học phí nào giữa sinh viên đang là thường trú nhân (của tiểu bang) và sinh viên không phải là thường trú nhân -mà cũng thuộc vào loại này là sinh viên từ các nước khác đến Hoa Kỳ du học. Các trường colleges nào do tôn giáo lập nên và các trường colleges chỉ dành riêng cho sinh viên thuộc phái nam hoặc sinh viên thuộc phái nữ theo học mà thôi thì đều là đại học tư. Tính chung, các đại học tư có số sinh viên ghi danh nằm dưới mức 20,000 sinh viên, và cũng có khi các đại học này chỉ có khoảng 2,000 sinh viên ghi danh theo học hoặc ít hơn nữa.

Campus Universities: Hầu hết các viện đại học tại Hoa Kỳ đều có những khuôn viên đại học tập trung (centralized campuses) làm trục trung tâm cho đời sống đại học, là nơi sinh viên học hành, cư ngụ, làm việc và giao tế với nhau. Các viện đại học lớn đôi khi còn có hệ thống khuôn viên đại học tỏa rộng (decentralized) hoặc gồm nhiều khuôn viên (multi-campus) với nhiều khuôn viên đại học phụ thuộc. Có khi, các khuôn viên đại học phụ thuộc này chỉ chuyên chú dạy một môn, ngành mà thôi, tỷ dụ như khuôn viên đại học có thể gồm các cơ sở y khoa (trường y) tại một địa điểm và các cơ sở dành cho các chương trình bậc cử nhân tại một địa điểm khác.

Trong một khuôn viên đại học thường bao gồm những văn phòng hành chánh, cư xá sinh viên, nhà ăn sinh viên, khu giải trí, các phòng ốc (lớp học) và các khu văn hóa nghệ thuật quần tụ lại với nhau. Các viện đại học ở miền đồng quê hoặc tại các thành phố nhỏ thường có tính cách tập trung hơn và, trong nhiều trường hợp, viện đại học này là tụ điểm của sinh hoạt địa phương.


2. College
Một college cũng đồng nghĩa với một university. Cũng có khi “college” đồng nghĩa với “school,” là một phân khoa trong một university. Thí dụ như đại học Y Khoa tại University of Arizona mang tên “University of Arizona College of Medicine.”

Trong loại các trường college ở Hoa Kỳ còn có các trường gọi là two-year colleges hay junior colleges (đại học hệ 2 năm), chỉ cung ứng văn bằng Associate's degree (bằng cao đẳng/đại học 2 năm) mà thôi, thường vẫn được coi là phân nửa trước của bằng B.A. hoặc B.S. mà sinh viên tại một trường thuộc hệ 4 năm sẽ lấy được. Nếu sau khi đã lấy bằng Associate's degree rồi mà sinh viên muốn theo đuổi bằng B.A. hoặc B.S. thuộc hệ 4 năm thì sinh viên vẫn có thể chuyển tiếp (transfer) các credits (tín chỉ đại học) lấy được (từ văn bằng Associate's degree) trong 2 năm đầu này lên một trường đại học hệ 4 năm (tức là một college hoặc university truyền thống) để học nốt 2 năm sau của văn bằng cử nhân.


3. Community college
Một community college (cao đẳng/đại học cộng đồng) là một học viện cấp đại học tại một cộng đồng cư dân địa phương cung ứng các chương trình mà thời gian học kéo dài 2 năm dẫn tới bằng Associate's degree, đặc biệt với các chương trình học mang tính uyển chuyển và mức học phí phải chăng, tức là thấp hơn so với các college và university truyền thống. Y như trường hợp của các đại học hệ 2 năm đã nói ở trên, các tín chỉ đại học mà sinh viên lấy được tại các trường đại học cộng đồng này có thể được dễ dàng chuyển tiếp lên các trường đại học hệ 4 năm.


4. Technical college
Các trường technical colleges (cao đẳng/đại học kỹ thuật) cung ứng cho sinh viên chương trình đại học 2 năm về các môn, ngành có tính cách chuyên môn (kế toán, điện toán...) hoặc liên hệ tới kỹ thuật (cơ khí, phòng thí nghiệm...), trang bị cho sinh viên các kiến thức chuyên nghiệp để khi tốt nghiệp họ sẽ trở thành các kỹ thuật viên (technician) làm việc tại các hãng, xưởng, xí nghiệp, cơ sở kinh doanh tư hoặc công sở.

*

Thông thường, theo học tại community college là con đường ít chông gai hơn và cũng ít tốn kém hơn để từ đó sinh viên có thể hoàn tất nền giáo dục đại học tại Hoa Kỳ. Vì thế, các sinh viên mà khả năng tài chánh hạn hẹp rất nên cứu xét đến chuyện bắt đầu nền giáo dục đại học của mình qua ngưỡng cửa các trường đại học cộng đồng này. Những yêu cầu về ghi danh nhập học tại các community colleges thường ít gắt gao và không phải cạnh tranh nhiều như việc ghi danh nhập học tại các colleges hoặc universities truyền thống. Chi phí theo học (gồm cả học phí và tiền chi tiêu cho sách vở cũng như tiền ăn, ở, tiêu pha của sinh viên) tại các trường community colleges rất vừa túi tiền của đại đa số sinh viên thuộc giới trung lưu hoặc có lợi tức thấp.



Nguồn: nguoi-viet.com

371335 top -

Lịch trình xin vào Đại học
Phạm Khoa



Quá trình xin vào Đại học ở Hoa Kỳ đòi hỏi chuẩn bị rất sớm. Một trong những lý do là vì việc chuẩn bị bao gồm nhiều thời gian dành để tìm kiếm thông tin và chọn lựa, đồng thời đòi hỏi tham dự một số kỳ thi tuyển sinh được tiêu chuẩn hoá. Bài viết này phát hoạ lịch trình chuẩn bị vào Đại học ở Hoa Kỳ.

Bạn cần bắt đầu việc chuẩn bị từ 15 ĐẾN 20 THÁNG trước khi năm học bắt đầu. Những bước tiên khởi cho quá trình chuẩn bị bao gồm tìm kiếm thông tin và suy nghĩ về tình huống và yêu cầu của bạn:
. Xác định tình huống và yêu cầu của bạn về trường học;
. Ghi danh tham gia các kỳ thi Admission Tests;
. Thu thập thông tin về các trường đại học và tham dự những cuộc triễn lãm giáo dục do các trung tâm tư vấn giáo dục tổ chức;
. Xác định bạn có cần hỗ trợ tài chính không? Tìm học bổng;
. Tìm hiểu thời hạn chót của việc xin học và xin hỗ trợ tài chính;
. Bắt đầu thu hẹp chọn lựa của bạn vào khoảng 10 đến 15 trường.

Sau những bước chuẩn bị trên, một năm trước khi năm học bắt đầu (năm học thường bắt đầu vào tháng Chín), sinh viên nên tiến hành một lịch trình tương tự như sau:



NĂM TRƯỚC NĂM NHẬP HỌC
Tháng Tám
. Liên hệ với các trường để lấy tài liệu hướng dẫn về chương trình học, mẫu đơn xin học và đơn xin hỗ trợ tài chính;
. Dự thi các kỳ thi tuyển sinh được tiêu chuẩn hoá cần thiết, như SAT, ACT, TOEFL; quá trình này có thể kéo dài đến cuối năm;
. Kết thúc việc tìm kiếm học bổng; tiến hành chuẩn bị hồ sơ xin các học bổng. Mỗi học bổng có thể có một thời hạn nộp hồ sơ khác nhau; nếu bạn định xin nhiều học bổng, nên chuẩn bị một bảng ghi chú theo dõi các mốc thời gian quan trọng cho từng học bổng.

Tháng Chín đến Mười Một
. Xin thư giới thiệu nến bạn chưa có;
. Yêu cầu trường đang học và đã học gởi bảng điểm cho các trường bạn muốn xin học;
. Dành thời gian trau chuốt bài tiểu luận xin nhập học; bạn cũng có thể dùng lại bài này, hoặc một hình thức có sửa đổi nào đó, cho việc xin học bổng;
. Sinh viên nước ngoài: gởi bảng điểm và bằng cấp nước ngoài đi thẩm định ở một tổ chức thẩm định bằng cấp được công nhận tại Hoa Kỳ;
. Chuẩn bị hồ sơ xin học hoàn chỉnh.

Tháng Mười Một đến tháng Giêng năm sau
. Nộp cho các trường hồ sơ xin học và xin hỗ trợ tài chính.



NĂM NHẬP HỌC
Tháng Tư đến tháng Năm
. Nhận được thư chấp thuận hoặc từ chối của trường. Quyết định chọn trường, báo cho trường về quyết định của bạn, hoàn tất các mẫu đơn mà họ yêu cầu;
. Gửi thư từ chối tới các trường mà bạn không chọn nếu trường yêu cầu thư từ chối.

Tháng Sáu đến tháng Tám
. Hoàn tất việc thu xếp chỗ ở và bảo hiểm y tế với trường; thu xếp trước phương tiện đi lại trong thời gian học;
. Sinh viên nước ngoài: sau khi nhận mẫu đơn I-20 của trường gởi đến, bắt đầu xin thị thực ở Lãnh Sự Quán nước sở tại; nên tiến hành khoảng ba tháng trước khi nhập học để bạn có đủ thời gian sắp xếp chuyến đi và mua vé máy bay.



Nên nhớ lịch trình trên chỉ là tham khảo. Mỗi sinh viên có thể phải sửa đổi lịch trình tuy theo tình huống riêng của bạn, đặc biệt là sinh viên nước ngoài. Thí dụ, nếu bạn chưa được chuẩn bị để thi TOEFL, bạn cần phải chuẩn bị cho kỳ thi này sớm hơn, có thể là hai năm trước khi dự định nhập học.



Nguồn: nguoi-viẹt.com

371879 top -

SAT, ACT, GRE, và GMAT
Phạm Khoa



Một trong những bước cần lo thật sớm cho quá trình xin vào đại học là chuẩn bị dự các kỳ thi kiểm tra tuyển sinh (Admission Tests). Đây là những kỳ thi trắc nghiệm được tiêu chuẩn hoá do một tổ chức thống nhất quản lý đồng loạt khắp nơi trên nước Mỹ, nhằm đánh giá khả năng cần thiết cho việc học đại học. Hầu hết các trường đại học đều yêu cầu sinh viên nộp điểm của một trong các Admission Tests khi xin học và xem đó là một trong những tiêu chuẩn xét chọn. Bài viết này giới thiệu các kỳ thi SAT, ACT, GRE và GMAT.

Một số trường miễn yêu cầu Admission Tests cho sinh viên nước ngoài, và thay vào đó bằng điểm thi TOEFL, cũng là một loại thi trắc nghiệm được tiêu chuẩn hoá, nhưng chỉ kiểm tra kỹ năng tiếng Anh thôi. Các trường đại học cộng đồng thường không yêu cầu điểm Admission Tests. Để biết rõ yêu cầu riêng về Admission Tests của mỗi trường, bạn nên vào trang web của trường, trang về thủ tục nhập học.

Khi đã có “shortlist” của những trường muốn nộp đơn xin học, bạn phải vào trang web của các trường này để tìm hiểu yêu cầu về Admission Tests: trường yêu cầu điểm của Admission Test nào, có miễn Admission Tests nếu bạn có GPA cao ở mức nào đó không, và điểm Admission Test tối thiểu và trung bình để được nhận là bao nhiêu. Khi chọn thời điểm thi, nhớ rằng từ khi ghi danh đến lúc thi mất khoảng 3 đến 7 tuần, và sau khi thi phải mất khoảng 3 tuần nữa mới có điểm. Đồng thời nên tính toán thời gian “dự phòng” để thi lại nếu điểm thi lần đầu không vừa ý.

Các kỳ thi Admission Tests của Mỹ được tổ chức mỗi năm vài lần khắp nơi trong nước Mỹ và ở nhiều nước khác. Thí dụ, hiện nay sinh viên ở Việt Nam có thể thi SAT và GRE ngay tại Việt Nam. Điểm thi của bạn sẽ tự động được gởi cho mỗi trường trong danh sách trường bạn yêu cầu gởi điểm khi ghi danh. Bạn cũng có thể thi trước rồi sau này mới yêu cầu ban tổ chức thi gởi điểm cho trường nếu bạn chưa chọn được trường. Tuy nhiên thông thường nếu đăng ký danh sách trường cùng lúc ghi danh thi bạn sẽ đóng tiền lệ phí thấp hơn.



ADMISSION TESTS CHO CHƯƠNG TRÌNH CỬ NHÂN
Nếu bạn muốn theo chương trình cử nhân, hầu hết các trường sẽ yêu cầu nộp điểm thi SAT I hoặc ACT. Thường thì bạn được chọn giữa SAT I và ACT. Đây là những chương trình kiểm tra được tiêu chuẩn hoá cho tuyển sinh đại học.

Nếu không hài lòng về điểm thi, bạn có thể thi lại một hoặc nhiều lần, nhưng SAT và ACT có chính sách hơi khác nhau. ACT sẽ cho bạn quyền chọn gởi cho trường kết quả kỳ thi nào cao điểm hơn. Còn SAT để trường quyết định: trường có thể lấy tất cả kết quả thi của bạn và chia trung bình hoặc cho phép bạn lấy điểm cao nhất, tuỳ chính sách của trường. Tuy nhiên, nếu không hài lòng về điểm thi, bạn có thể yêu cầu SAT huỷ bỏ kết quả thi trong vòng 5 ngày sau khi thi. Nếu bạn đã thi SAT và bị điểm thấp, một cách để nâng điểm là chuyển sang thi ACT và chỉ dùng ACT.


SAT
SAT được tổ chức 7 lần mỗi năm ở Mỹ và 6 lần mỗi năm tại nhiều nơi trên thế giới. Bạn phải đăng ký trước ít nhất là sáu tuần. Bạn có thể tìm thấy các thông tin cụ thể hơn về ngày thi, ban tổ chức thi, phí dự thi, và các thủ tục đăng ký trên trang Web của SAT: http://www.collegeboard.org. Các nhà sách và thư viện trường có bán các đề thi mẫu và tài liệu giúp luyện thi; ở các nước khác, bạn có thể mua những tài liệu này tại những trung tâm tư vấn giáo dục Hoa Kỳ ở địa phương. Bạn có thể hỏi thông tin về trung tâm này tại Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ.

. SAT I trắc nghiệm chủ yếu khả năng suy luận ngôn ngữ và toán học. Bài thi này gồm phần đọc hiểu (70 phút), phần toán học (70 phút) và phần bài viết (60 phút). Phần bài viết không tính điểm và có một số trường không xem xét bài viết trong quyết định chọn sinh viên. SAT II dùng để đánh giá kiến thức của thí sinh trong một môn học cụ thể.

. SAT II không phổ biến trong xét tiêu chuẩn nhập học, thường được dùng cho một số chuyên ngành trong các trường có tiêu chuẩn nhập học cao. Tổng cộng thời gian kiểm tra SAT I là 3 ¾ tiếng, và SAT II là 1 tiếng.

Bài kiểm tra đọc hiểu cũng như toán học của SAT I đều được chấm theo thang điểm 200 đến 800. Vì thế, điểm cao nhất có thể đạt được cho trọn kỳ thi SAT I là 1,600 điểm, 800 cho đọc hiểu, và 800 cho toán học. SAT sẽ báo cho trường điểm ngôn ngữ tách riêng với điểm toán học. Bài kiểm tra SAT II cũng chấm theo thang điểm 200 đến 800.


ACT
ACT được tổ chức tối đa 5 lần một năm ở Mỹ và tại nhiều nước trên thế giới. Không giống thi SAT, số lần tổ chức thi ACT tùy thuộc vào từng trung tâm. Bạn cần đăng ký trước từ hai đến ba tuần. Vì kết quả thi ACT không được chấp nhận rộng rãi bằng SAT, bạn nên kiểm tra với trường xem họ có chấp nhận ACT hay không. Thông tin chi tiết về ghi danh thi ACT được cung cấp trên trang web http://www.actstudent.org/.

Bài thi ACT gồm 4 phần: phần trắc nghiệm tiếng Anh 45 phút, toán học 60 phút, đọc hiểu 35 phút và suy luận khoa học 35 phút. Nội dung đề thi ACT có tính kiểm tra lại chương trình trung học thí sinh đã nghiệm qua.

Kết quả thi ACT tính như sau: bạn nhận được một mức điểm “thô” cho mỗi phần trong bài thi, là tổng điểm của các câu trả lời đúng. Điểm “thô” sau đó sẽ được chuyển sang thang điểm chính thức từ 1 đến 36.




ADMISSION TESTS CHO CHƯƠNG TRÌNH CAO HỌC

GRE
Các trường thường đòi hỏi điểm GRE nếu bạn muốn học cao học. Có hai dạng thi GRE. GRE Tổng Quát là dạng thi trắc nghiệm đánh giá những khả năng đã được tiếp thu qua học tập và kinh nghiệm trong một thời gian dài, không nhất thiết liên quan trực tiếp đến một môn học cụ thể nào. Bài kiểm tra bao gồm 3 phần: Viết phân tích, lý luận về ngôn ngữ và lý luận về tính toán; tổng thời gian thi là 3 ¾ tiếng. GRE Theo Ngành là dạng trắc nghiệm khả năng trong một môn cụ thể; hiện nay GRE có tổ chức thi cho các ngành hoá học, hoá sinh, sinh vật, văn học Mỹ, công nghệ thông tin, toán, lý và tâm lý học. Tổng thời gian thi cho một ngành là 3 ½ tiếng. GRE được tổ chức ở khắp nơi trong nước Mỹ và nhiều nước khác, vài lần một năm.

GRE Tổng Quát được tính điểm từ 200 đến 800 cho mỗi phần, chia làm 10 bậc. Riêng phần viết phân tích được tính điểm từ 0 đến 6, nửa điểm mỗi bậc. GRE Theo Ngành được tính điểm từ 200 đến 990, chia làm 10 bậc.

Thông thường, các chương trình tiến sĩ PhD đòi hỏi điểm GRE cao hơn các chương trình Master’s. Ngoài ra, mỗi ngành cũng sẽ có yêu khác nhau về điểm của phần ngôn ngữ và phần tính toán. Thí dụ, ngành kỹ thuật đòi hỏi điểm về tính toán thật cao, có thể là gần mức 800, nhưng chỉ cần điểm phần ngôn ngữ ở mức trung bình.


GMAT
Tương tự như GRE, GMAT là kỳ thi trắc nghiệm đánh giá khả năng vào học cao học, nhưng chỉ dùng riêng cho ngành kinh doanh và quản trị kinh doanh. Bạn phải vào trang web của trường xem trường đòi hỏi điểm GRE hay GMAT.

Bài thi GMAT gồm 3 phần: phần ngôn ngữ nhằm kiểm tra khả năng đọc hiểu và phân tích (75 phút), phần tính toán nhằm kiểm tra kỹ năng về toán học và phân tích toán học (75 phút), phần viết phân tích nhằm kiểm tra khả năng phân tích và tranh luận (60 phút). Tổng cộng thời gian thi khoảng 4 tiếng.

Điểm GMAT cho mỗi phần sẽ tính trên thang điểm từ 0 đến 60. Điểm tổng cộng từ 200 đến 800. Mỗi trường có yêu cầu khác nhau về mức điểm GMAT, và yêu cầu này được cân đối với những yêu cầu khác như điểm GPA. Những trường có uy tín cao nhất ở Mỹ cho biết điểm GMAT trung bình của những sinh viên được nhận là 700. Các trường ở mức “bậc nhì” cho biết điểm GMAT trung bình của sinh viên được họ nhận là khoảng 550.



Nguồn: nguoi-viet.com

371880 top -

Làm sao chọn lớp trong đại học
Tác giả: Nguyễn Xuân



Lý do chính đối với nhiều bạn sinh viên khi đi học là để có được bằng cấp cần phải có để ra đi làm. Do đó, chọn đúng lớp, vào đúng thời điểm, theo đúng thứ tự là điều vô cùng quan trọng cho sự thành công của bạn. Dưới đây là những điều bạn nên lưu ý để đạt kết quả nhanh nhất và không phí thời giờ.


Nói chuyện với người cố vấn
Dù nơi bạn theo học là trường lớn hay nhỏ, thế nào cũng có người cố vấn cho sinh viên biết để chọn những lớp nào. Người đó có thể là một giáo sư trong phân khoa được đề cử để giúp sinh viên thuộc ngành. Người đó có thể là một sinh viên trong trường, hơn bạn chỉ vài năm học nhưng có đủ kinh nghiệm và được huấn luyện để giúp các sinh viên khác trong trung tâm tư vấn của trường. Bạn nên đến gặp họ, cho dù có thể bạn chưa biết chắc mình muốn theo học ngành nào. Ðiều chắc chắn là vì đây là nhiệm vụ của họ, các cố vấn này có hiểu biết đủ để đề nghị những điều mà bạn không nghĩ hoặc không biết tới.


Ðừng quá ôm đồm
Ðừng tự đưa mình vào sự thất bại chỉ vì bạn không biết tự lượng sức mình khi lấy quá nhiều lớp. Những lớp lab tưởng dễ dàng kia lại nhiều khi cần thời giờ hơn bạn nghĩ. Ðó là chưa kể có thể bạn tính đến việc đi làm thêm để kiếm tiền. Bạn cần hiểu rõ mức độ khó khăn của lớp học, thay đổi các môn học để không phải quá bận rộn đầu óc trong ngày. Khi đến kỳ thi bạn sẽ thấy sự hữu ích của việc biết trộn lẫn các lớp “khó” với lớp “dễ”. Ôm toàn lớp khó vào một khóa để giải quyết cho xong có thể là điều bạn nghĩ mình có khả năng nhưng coi chừng đây là một lỗi lầm lớn lao.


Phải nghĩ tới cách học của mình
Bạn cũng nên suy nghĩ đến các thói quen hay công việc khác của mình ngoài lớp học. Bạn là người thức khuya? Bạn là người hay dậy sớm? Bạn học dễ hơn vào ban trưa?

Hãy để ý thời khóa biểu của các lớp học và tìm xem lớp nào thích hợp nhất với cách học của bạn.


Chọn giáo sư
Nhiều bạn cảm thấy may mắn khi lấy được lớp có người giáo sư mình vẫn thích theo học hay được lời giới thiệu tốt đẹp từ các bạn từng học các giáo sư đó. Nếu có thể được, bạn hãy cố chọn các lớp có giáo sư mà mình ưa thích. Không có gì sai lầm với điều này cả. Bạn không cần thử nghiệm với những giáo sư nổi tiếng khó khăn với sinh viên hoặc dạy dở. Nếu không vào được lớp của giáo sư đó trong khóa này, bạn cứ đợi đến khóa tới nếu thời khóa biểu cho phép. Nếu bạn là sinh viên mới thì cách tốt nhất là tìm hiểu các bạn chung quanh hay lên mạng. Ít nhiều thì bạn cũng có sự chuẩn bị cho lớp học của giáo sư đó.


Ðể ý đến đời sống ngoài lớp học của mình
Ðể có thể thành công trong lớp học, bạn cũng phải để ý đến đời sống ngoài lớp học của mình. Ðiều này có nghĩa là khi chọn lớp, bạn phải xem đến ảnh hưởng của lớp đến công việc hay thời khóa biểu thường nhật của mình. Có thể bạn sẽ thấy mình cần lấy lớp buổi tối hoặc sáng sớm. Bạn có những bổn phận gì với gia đình, người thân hay không? Ðừng tạo thêm những áp lực cho mình vì sẽ có tác động xấu lên việc học hành và điểm của bạn.



Nguồn: nguoi-viet.com

371883 top -

Khởi đầu khoá học mới
Tác giả: Nguyễn Xuân



Dưới đây là những đề nghị căn bản nhằm giúp người sinh viên dễ dàng hòa nhập với đời sống đại học từ khóa đầu tiên và tiến xa hơn về sau này.


1. Có cách thức theo dõi giờ giấc của mình. Ðiều hành hữu hiệu giờ giấc, theo đúng thời khóa biểu đã định có thể sẽ là thử thách lớn nhất của người sinh viên. Hãy sử dụng từ ngày đầu tiên vào trường.


2. Ðừng lấy quá nhiều lớp. Có những sinh viên tự hào vì mình lấy nhiều lớp, đôi khi đến 20 units trong một khóa học. Nhưng điều này có thể sẽ gây hại cho bạn trên đường dài. Dĩ nhiên là bạn sẽ thu ngắn được thời gian đi học, nhưng coi chừng bạn sẽ bị điểm thấp vì quá nhiều bài vở và quá khó khăn. Nếu bạn bắt buộc phải học nhiều lớp vì một lý do nào đó thì phải hiểu rằng sẽ phải giảm bớt thời gian dành cho những việc khác để không đặt quá nhiều áp lực lên mình.


3. Mua sách vở cần thiết càng sớm càng tốt. Nếu không có sách, bạn có thể sẽ bị tụt hậu so với các sinh viên khác. Nếu phải vào thư viện để đọc nhờ sách trong một hay hai tuần lễ đầu thì vẫn phải làm vì đây là phương cách tốt nhất để đi theo kịp lớp của mình cho đến khi sách về tới nơi.


4. Có các hoạt động khác bên ngoài lớp học như tham gia hội sinh viên, vào hội chơi banh... là những điều tốt nhưng đừng để bị mất quá nhiều thời giờ. Vì bạn sau khi làm bài, học bài, còn phải có thời giờ ăn, ngủ.


5. Giải quyết xong các vấn đề về tài chánh (như financial aid). Bạn có thể bận rộn với nhiều vấn đề trong khóa học mới nhưng vấn đề tài chánh phải được giải quyết theo đúng ưu tiên, nếu không bạn sẽ chẳng hoàn tất được khóa học.


6. Chuẩn bị sẵn các biện pháp hỗ trợ khi cần. Ðiều này tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng sinh viên nhưng bạn cũng có thể lo lắng trước những việc căn bản như vấn đề nhà cửa, chỗ ở, ăn uống, phương tiện di chuyển trong trường hợp trở ngại xe cộ, cần người đưa đón... để tránh có thêm áp lực nhất là khi vào mùa thi.


7. Kiếm lấy các phương cách giải trí lành mạnh để có sự thoải mái, giảm bớt áp lực của việc học. Tìm nhóm bạn tốt, đi tập thể dục, chơi banh với bạn... là những điều sẽ giúp tinh thần không quá mệt mỏi.


8. Kiếm đầy đủ các tin tức cần thiết để có thể được giúp đỡ khi cần. Những số điện thoại, địa chỉ cho đủ mọi vấn đề nên để vào một nơi nhất định để khỏi cần phải mầy mò đi lục lọi vào những lúc cần tới nhất.


9. Hãy luôn giữ liên lạc với gia đình. Nhiều bạn sinh viên đi xa nhà mới thấy sự quý giá của đời sống gia đình nên liên lạc thường xuyên hơn đã đành, những bạn ở gần nhà cũng nên duy trì các sinh hoạt đời sống với cha mẹ anh chị em vì sẽ có lúc bạn thấy rằng không nơi nào cho mình sự hậu thuẫn tinh thần hơn là gia đình của mình.



Nguồn: nguoi-viet.com

371884 top -
Xin chào mọi ngươi, minh mơi qua Mỹ đươc hơn 8 tháng. Hiên tại đang học tiêng anh ở Truman. Minh muôn sau khi học tiếng anh và 2 năm college sẽ chuyên sang university. Minh muôn hỏi có ai biêt ở Chicago có nhưng trương Đại học nào về Computer Science không.

606088 top -
@KayJohn
Bạn vào mục Mong được hướng dẫn việc học ở Mỹ hỏi thử, hi vọng có các cô/chú anh/chị ở Illinois biết. Mình search thì thấy có University of Illinois at Chicago có vẻ phổ biến. Bạn coi Transfer Guide ở Truman College để biết các lực chọn khác. Chúc bạn may mắn.

606110 top -
@hoangquach
Cảm ơn bạn để minh vào coi xem thế nào.

606113 top -
VietDitru A-Z
quản thủ

VietDitru
Sức Khoẻ
Sử Dụng Điều Hành

Bảo lãnh
  Tổng quát
 Công dân Mỹ
  + Anh chị em
  + Cha/mẹ
  + Con ruột dưới 21
  + Con ghẻ dưới 21
  + Con nuôi dươí 21
  + Con độc thân trên 21
  + Con có gia đình
  + Hôn phu thê
  + Vợ chồng
  + Vợ, con riêng

 Thường trú nhân
 (Green card)
  + Con độc thân dươí 21
  + Con độc thân trên 21
  + Vợ chồng
  + Vợ, con riêng


Bảo trợ tài chánh
. Cách tính income
. Điều kiện
. Giấy khai thuế
. Income tối thiểu
. Lệ phí AOF
. Người đồng bảo trợ
. Ý nghĩa I-864
. Ý nghĩa I-864A


Cẩm nang
. Bảo lãnh, định cư
. Nhập cư

Câu hỏi thường gặp
CSPA
. Khiếu nại
. Tính tuổi


Di trú định cư
. Anh chị em
. Cha mẹ có quốc tịch
. Cha mẹ có thẻ xanh
. Con có quốc tịch
. Định cư
. Hôn phu thê
. Lao động
. Vợ chồng


Di trú không định cư
. Chữa bệnh
. Công tác (B-1)
. Du lịch (B-2)
. Du học (F-1)
. Lao động ngắn hạn (H)
. Phóng viên, Báo chí (I)
. Trao đổi khách (J-1)


Du học Hoa Kỳ
. Việc làm du học sinh I
. Việc làm du học sinh II
. Việc làm du học sinh III
. Visa du học


Du lịch Hoa Kỳ
. Cách điền đơn DS-160
. Du lịch Hoa Kỳ
. Thư mời thân nhân


Khám sức khoẻ
. Bệnh cấm nhập cảnh
. Chích ngừa
. Chợ Rẫy
. IOM
. Kiểm tra sức khoẻ
. Thử đàm

Mẫu đơn
. G-325A
. G-1145
. G-884
. I-90
. I-129F
. I-130
. I-131
. I-134
. I-290B
. I-360
. I-485
. I-601
. I-601A
. I-751
. I-765
. I-797
. I-797C
. I-824
. I-864
. I-864A
. I-864EZ
. I-864W
. I-865
. I-912


Mẫu thư liên hệ
. Mẫu thư/Email


Quốc tịch
. Bài học thi quốc tịch
. Bài tiếng Việt
. N-400
. N-565
. N-600

Sức khoẻ (Khám)


Thường trú nhân
. Green card
. 2 năm
. 10 năm
. Giấy miễn thị thực
. Hồi hương
. Mất thẻ xanh
. Mua nhà tại VN
. Quyền lợi trách nhiệm
. Re-entry permit
. Rời Hoa Kỳ
. Rời Hoa Kỳ hơn 1 năm
. Sanh con ngoài HK
. Thay đổi địa chỉ
. Thẻ xanh hết hạn
. Trở về VN làm việc
. Visa nhập cảnh VN


Tiến trình NVC
. Bổ túc người đi kèm
. Cách điền tên
. Các từ tiếng Anh
. Chuẩn bị hồ sơ
. Con chung hộ chiếu
. Con đang học tại Mỹ
. DS-3032
. DS-230
. DS-260
. DS-261
. DS-2001
. Đóng lệ phí
. Khai sinh, hôn thú
. Làm hộ chiếu VN
. Lý lịch tư pháp
. Police certificate
. Thời hạn hộ chiếu VN

PayPal về email:
[email protected]


Chi phiếu gửi về:
Jimmy Ton
4369 46 St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

Thư viện di trú đang được trùng tu và cần nhiều nhân lực. Các bạn nào có chút thì giờ VietDitru mời các bạn tham gia phụ một tay nhé.
Chairman & CEO: "Người hạnh phúc nhất là người tạo nhiều hạnh phúc cho kẻ khác"- Diderot.
cochin: I work here. :) 
nguoidochanh: I work here. :)
SauHai: Phần nhiệm vụ duy trì và phát triển Thư viện Việt Di Trú.
BaoLaTinhChua: I work here. :)
quangtrung: "Nhân nghĩa không cốt giúp cho nhiều mà chính là giúp cho phải lúc"- La bruyère.
paloma: Hello! Welcome to Library of VietDitru.
quannguyen: Hello! Welcome to Library of VietDitru.
hotheart: Hello!
chitam: "Our greatest weakness lies in giving up. The most certain way to succeed is always to try just one more time."- Thomas Edison.
miah: I just work here. :)
muoichanh: VietDitru - Một phần tất yếu của cuộc sống.
Hello World!