.
[TV] Hệ thống tổ chức các trường học ở Mỹ

Trường Tiểu Học
Mẫu Giáo và Lớp 1 đến Lớp 5
(Trẻ em từ 5 đến 10 tuổi)



Phổ Thông Cơ Sở
Lớp 6 đến Lớp 8
(Thiếu niên từ 11 đến 13 tuổi)



Phổ Thông Trung Học
Lớp 9 đến Lớp 12
(Vị thành niên từ 14 đến 18 tuổi)



Giáo dục sau trung học
Đại học,
Đại học cộng đồng, công lập và tư thục,
Trường đại học cộng đồng hoặc đại học hai năm hoặc bốn năm,
Trường huấn nghệ
(Tất cả người lớn có thể ghi danh học)


368401 top -

Các chương trình học không lấy bằng



Chương trình học tiếng Anh
Có ba loại chương trình tiếng Anh chất lượng cao tại Mỹ:
1. Chương trình cấp tốc (IEPs): Thường yêu cầu từ 20 đến 30 giờ học trên lớp mỗi tuần. Khóa học bao gồm học với giáo viên trên lớp, thảo luận nhóm, học trong phòng luyện âm và bài tập ngoài lớp học. Hầu hết các chương trình nằm trong các khóa dự bị đại học, thiết kế nhằm giúp cho sinh viên chuẩn bị vào học một trường đại học hay cao đẳng ở Hoa Kỳ.

2. Chương trình bán cấp tốc: Giống như các chương trình cấp tốc, các chương trình bán cấp tốc cũng bao gồm các giờ học với giáo viên trên lớp, học nhóm, luyện âm, và hoạt động ngoài lớp học, nhưng thường thì sinh viên vẫn theo học các môn học chính khóa khác chứ không chỉ học tiếng Anh.

3. Chương trình chuyên ngành: Nhiều chương trình tiếng Anh tư nhân và một số chương trình do trường đại học tổ chức được thiết kế đặc biệt để phù hợp với nhu cầu của những người làm công tác chuyên môn. Những chương trình này có thể cấp chứng chỉ đặc biệt về tiếng Anh trong các ngành như luật, kỹ thuật, giáo dục, y tế, kiến trúc, lập trình máy tính, hàng không, du lịch khách sạn. Một số chương trình còn cho bạn cơ hội thực tập tại các công ty Mỹ.



Chương trình “sinh viên đặc biệt”
Nếu bạn đã tốt nghiệp trung học hay đại học, hoặc bạn đang theo học đại học hoặc cao học, nhiều trường đại học sẽ cho phép bạn theo học một số lớp ở trình độ cử nhân hay cao học do bạn tuỳ chọn mà không cần phải theo học cả chương trình.

Các sinh viên đặc biệt thường là không đủ tư cách để nhận tài trợ của trường dưới dạng học bổng hay hỗ trợ học phí. Bạn có thể xin tài trợ từ các tổ chức độc lập như Chương trình học bổng Fulbright.



Chương trình trao đổi nghề nghiệp và chuyên môn
Những chương trình này rất đa dạng và chủ yếu dành cho người nước ngoài đến Mỹ hoặc người Mỹ ra nước ngoài. Một số chương trình cho phép bạn nhận bất kỳ công việc gì mà bạn tìm được; một số chương trình khác đòi hỏi bạn chỉ được làm công việc có liên quan đến nghề nghiệp.

Chỉ có những tổ chức do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho phép và cấp chứng nhận đủ tư cách mới có thể quản lý những chương trình này. Chứng nhận này cho phép những người tham gia chương trình xin cấp thị thực trao đổi J-1 tại Đại sứ quán hay Lãnh sự quán của Hoa Kỳ. Thị thực J-1 cho phép người tham gia chương trình được làm việc hợp pháp tại Hoa Kỳ trong một khoảng thời gian nhất định. Bạn không được học những chương trình học chính qui khi đang tham gia chương trình trao đổi nghề nghiệp. Bạn có thể vào trang web của chính phủ: http://exchanges.state.gov./ để tìm hiểu các chương trình này. Một thí dụ là Chương trình Trao đổi Quốc tế các Nhà Quản lý (International Visitor Leadership Program), hoạt động theo Đạo Luật Fulbright-Hays. Chương trình này mỗi năm chọn lựa môt số nhân vật chuyên môn từ khắp nơi trên thế giới về tụ họp để họ có cơ hội gặp gỡ nhau và trải qua kinh nghiệm sinh hoạt tại Mỹ. Những người tham dự là những nhà chuyên môn hay quản lý hàng đầu hoặc có tiềm năng vươn lên hàng đầu trong chính phủ, chính trị, báo chí, giáo dục và các lĩnh vực khác.



Nguồn: nguoi-viet.com

371885 top -

Chương trình học có bằng cấp


Đặc tính của nền giáo dục Mỹ là tính linh động và đa dạng. Người học có rất nhiều lựa chọn để theo đuổi chương trình học phù hợp nhất với hoàn cảnh và yêu cầu công việc của mình. Bạn có thể theo các chương trình cấp bằng cao đẳng, đại học, cao học, hay chương trình dạy nghề, có thể chọn học toàn bộ chương trình hay làm “sinh viên đặc biệt” chỉ học một phần không lấy bằng cấp. Trong mỗi chương trình, bạn được quyền lựa chọn môn học để thiết kế chương trình theo ý muốn. Sự đa dạng và linh động này là một trong những nguyên nhân làm cho các trường đại học và cao đẳng Mỹ rất hấp dẫn kể cả với người nước ngoài.


Bằng Cử Nhân và Cao Đẳng
Bằng cử nhân thường mất 4 năm và bằng cao đẳng thường mất 2 năm. Chương trình cao đẳng có thể là chương trình giúp bạn có một chuyên môn cụ thể để ra đi làm, cũng có thể là chương trình “chuyển tiếp,” cho phép bạn chuyển sang học thêm hai năm nữa trong một chương trình đại học để lấy bằng cử nhân.

Một trong những điểm hấp dẫn nhất của chương trình đào tạo cử nhân ở Mỹ là tính linh động. Bạn có quyền linh động xây dựng cho mình một chương trình học riêng không giống gì với chương trình của các bạn cùng khóa, miễn hoàn tất đủ số lượng tín chỉ yêu cầu, khoảng 130 đến 180 tín chỉ, thường được hoàn thành trong 4 năm học tập trung. Sinh viên trong từng năm được gọi là sinh viên năm thứ nhất (freshman), sinh viên năm thứ hai (sophomore), sinh viên năm thứ ba (junior) và sinh viên năm cuối (senior). Năm học có thể hơi khác nhau giữa các trường, song thông thường là từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 5. Năm học có thể được chia ra làm hai kỳ, mỗi kỳ 18 tuần được gọi là “học kỳ;” chia làm 4 kỳ hoặc 3 kỳ, mỗi kỳ dài 12 tuần.


Cao Học (Master’s Degree)
Chương trình cao học nhằm hướng sinh viên từ học vị cử nhân đi lên một chuyên ngành, trong các ngành như: quản trị doanh nghiệp (M.B.A.), công tác xã hội (M.S.W.), giáo dục (M.Ed.), mỹ thuật (M.F.A.), luật (L.L.M.), báo chí (Master of Journalism), quan hệ quốc tế (MA in International Relations) và kiến trúc (Master of Architecture).

Học vị cao học chuyên ngành thiên về ứng dụng kiến thức hơn là nghiên cứu thuần túy. Các chương trình cấp học vị chuyên ngành thường đòi hỏi phải hoàn tất từ 36 đến 48 tín chỉ (1 hoặc 2 năm học tập trung) và thường không chấp nhận sinh viên lấy tín chỉ bằng luận án. Các chương trình này không phải lúc nào cũng yêu cầu phải có bằng cử nhân về chuyên ngành theo đuổi cao học.


Tiến Sĩ (Ph.D.)
Chương trình tiến sĩ nhằm đào tạo học giả nghiên cứu hoặc giảng viên đại học tương lai. Việc nhận được bằng tiến sĩ chứng tỏ là sinh viên đó đã thể hiện năng lực của một nhà nghiên cứu trong một chuyên ngành.

Ph.D. (tiến sĩ) là học vị phổ biến nhất được cấp cho các ngành học thuật. Các học vị tiến sĩ khác được cấp chủ yếu cho các chuyên ngành như giáo dục và quản lý doanh nghiệp. Chương trình tiến sĩ bao gồm việc tham gia các lớp nâng cao, hội thảo chuyên đề và viết luận án thể hiện công trình nghiên cứu độc đáo của cá nhân dưới sự hướng dẫn của cố vấn học tập.

Học vị tiến sĩ được cấp cho sinh viên đã hoàn tất một công trình nghiên cứu độc đáo có ý nghĩa, viết luận án thể hiện công trình đó và bảo vệ thành công luận án trước hội đồng giáo sư về chuyên ngành của mình. Quy trình này có thể mất từ 2 đến 3 năm. Do đó, để đạt được học vị tiến sĩ phải mất khoảng từ 5 đến 8 năm sau khi có học vị cử nhân tùy ngành học.


Các chương trình dạy nghề và đào tạo kỹ thuật
Với thời gian từ vài tháng đến hơn một năm, các chương trình dạy nghề và đào tạo kỹ thuật nhằm để đáp ứng những yêu cầu đào tạo nghề cụ thể và thiết thực. Các hoạt động học tập trên thực địa là nội dung chủ đạo của đào tạo nghề. Các lĩnh vực ngành nghề phổ biến là xử lý dữ liệu, lập trình máy tính, xây dựng, cơ khí ô tô, soạn thảo văn bản, và nghiệp vụ thư ký.

Đào tạo kỹ thuật và dạy nghề đòi hỏi học viên phải học các khái niệm, lý thuyết, và thiết kế, cộng với các kỹ năng thực hành. Các chương trình này có tại các trường cao đẳng cộng đồng và trường dạy nghề hai năm. Kết thúc các chương trình đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, bạn sẽ nhận được một văn bằng chứng chỉ.


Nguồn: nguoi-viet.com

371886 top -

Nền giáo dục Mỹ
duhocmi.com



Image
Nước Mỹ với hơn 3.600 trường đại học và 500 ngành học khác nhau đã tạo rất nhiều cơ hội cho sinh viên quốc tế có thể lựa chọn được cho mình một chương trình học đúng mục đích và phù hợp. Nếu bạn đã quyết định chọn Mỹ là điểm dừng của mình thì điều cần thiết trước tiên bạn phải làm và suy nghĩ, chọn và nộp đơn vào trường phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu của bạn.


HỆ THỐNG GIÁO DỤC

Phổ thông trung học:
1. Các trường công.
2. Các trường nội trú.
3. Các trường bán trú.


Cao đẳng hai năm:
1. Trường cao đẳng cộng đồng - đào tạo chung.
2. Trường kỹ thuật/dạy nghề - dạy nghề, đào tạo kỹ thuật chuyên ngành.
3. Trường cao đẳng dự bị - chuẩn bị cho sinh viên chuyển sang hệ đại học bốn năm.


Đại học bốn năm:
1. Trường đại học - loại trường cơ sở cấp bằng cử nhân.
2. Đại học tổng hợp - một thể chế có thể bao gồm nhiều trường đại học và cấp tất cả các loại bằng.
3. Viện công nghệ - loại trường chuyên về khoa học nhưng có thể đào tạo trong nhiều lĩnh vực khác.

Mục tiêu của hầu hết sinh viên theo học các chương trình này là có được tấm bằng đại học, thông thường phải mất tới 4 năm. Sinh viên có thể lựa chọn cách học mà qua hai giai đoạn để đạt được mục đích của mình. Đó là cách sinh viên có thể học hai năm đầu tại trường đại học cộng đồng (Community College) hoặc trường đại học đại cương (Junior College) sau đó sẽ học chuyển tiếp hai năm cuối của trường đại học 4 năm và sẽ được cấp bằng cử nhân sau khi kết thúc chương trình học.


Trường chuyên ngành
1. Trường Y - trường sau đại học đào tạo các bác sỹ.
2. Trường Luật - trường sau đại học đào tạo luật sư.
3. Trường Kinh doanh - trường sau đại học cấp các loại bằng như Thạc sỹ QTKD - MBA.


Sau đại học:
1. Tại các trường đại học tổng hợp.
2. Tại các trường đại học.
3. Tại các viện nghiên cứu.

Sau khi bạn đã tốt nghiệp cử nhân thì bạn có thể tiếp tục học cao hơn. Hơn 1.000 trường đại học ở Mỹ có chương trình đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ. Thông thường một chương trình thạc sỹ phải mất hai năm để hoàn thành và chương trình tiến sỹ thì phải mất thêm 3 năm nữa. Nhưng không nhất thiết là bạn phải theo đúng một ngành khi muốn chuyển tiếp lên học cao hơn. Và thực tế cho thấy là các bạn thường chọn một ngành khác.

Image

ĐẶC ĐIỂM NỀN GIÁO DỤC MỸ

Ðối với nhiều người thuộc các nền văn hóa khác, hệ thống giáo dục Mỹ có vẻ hết sức rộng lớn và đa dạng đến độ khó tìm thấy các điểm chung. Tuy nhiên, trong cái mớ phức tạp và “trăm hoa đua nở” đó, nền giáo dục Mỹ lại phản ảnh một cách xuất sắc lịch sử, văn hóa và các giá trị xã hội của một đất nước luôn luôn đổi mới và liên tục tiến bộ. Nhìn chung, nét đặc thù của nền giáo dục Mỹ được thể hiện qua các tính cách như tầm cỡ lớn lao, tổ chức hoàn bị, địa phương hóa rõ rệt, cạnh tranh mạnh mẽ, phẩm chất cao, và ngày càng đa văn hóa.


1. Tầm cỡ lớn lao
Các trường học tại Mỹ - công cũng như tư, tiểu học và trung học, đại học công tiểu bang và đại học tư- chỗ nào cũng có, và Mỹ tiếp tục điều hành một trong các hệ thống giáo dục vĩ đại nhất thế giới. Theo các con số của Viện Thống Kê Giáo Dục Quốc Gia Mỹ, trong niên khóa 2007-2008, có hơn 75 triệu trẻ em và người lớn ghi danh theo học tại các trường tiểu học, trung học và đại học tại Mỹ. Thêm vào đó, còn có khoảng 6.8 triệu giáo viên và giáo sư làm việc tại các trường từ mẫu giáo tới đại học. Theo Sở Thống Kê Mỹ, số học sinh và sinh viên theo học tại các trường công lập ở Mỹ gia tăng mạnh mẽ nhất là trong giai đoạn từ 1956 tới 1964, tức là sau Thế Chiến 2 và Chiến Tranh Triều Tiên. Trong những năm đầu thế kỷ thứ 21 này, sĩ số ghi danh tại các học đường Mỹ lại lên cao nhờ mức độ gia tăng mạnh mẽ của người dân Mỹ gốc Hispanic và các sắc dân nhập cư khác.

Hệ thống giáo dục Mỹ ngày nay bao gồm khoảng 96,000 trường tiểu học và trung học, cộng với hơn 4,200 trường đại học, tính từ các trường đại học cỡ nhỏ hệ 2 năm cho đến các trường đại học tiểu bang cỡ lớn với các chương trình bậc cử nhân, cao học và tiến sĩ có sĩ số từ 30,000 sinh viên trở lên. Trong số các trường đại học, loại trường đại học công tiểu bang (state universities) thường có kích thước lớn lao hơn, bởi vì trên thực tế thì các trường này chiếm hơn phân nửa sĩ số sinh viên đại học trên toàn quốc. Các trường đại học tại Mỹ cạnh tranh nhau rất mạnh mẽ, một phần cũng là nhờ ở tính tự trị trong ngân sách của mỗi trường. Sự kiện này cũng giải thích tại sao nhiều trường đại học tại Mỹ có phẩm chất giáo dục rất cao so với các học viện khác trên thế giới. Chi phí hằng năm dành cho hệ thống giáo dục tại Mỹ, tính trung bình, lên tới mức $878 tỉ.


2. Trường công và trường tư
Có những trường công và tư trên toàn cõi liên bang Mỹ. Trong số phỏng định 55.8 triệu học sinh tiểu học và trung học trong niên khóa 2007-2008, có khoảng 6 triệu học sinh ghi danh theo học tại các trường tư, chiếm 11% sĩ số. Trong khi hầu hết các trường bậc tiểu học và trung học tại Mỹ là trường công, phân nửa các trường đại học tại đây là những trường tư, bao gồm những trường đại học danh tiếng như Harvard, Yale và Georgetown.

Các trường đại học công được tài trợ phần nào qua ngã thành phố và tiểu bang hoặc có khi là liên bang. Sinh viên cư trú tại thành phố hoặc tiểu bang nhà trả học phí thấp hơn bởi vì một phần số tiền thuế mà gia đình họ đóng đã được dùng để trợ giúp vào phần học phí của họ. Những sinh viên không thuộc quy chế thường trú tại Mỹ phải trả tiền học cao hơn.

Các trường đại học tư (colleges và universities) được tài trợ phần chính là do lệ phí sinh viên phải đóng và tiền quyên tặng của các tổ chức tư nhân. Nhiều trường tư có liên hệ hoặc có gốc gác từ các tôn giáo như Công Giáo La Mã, Tin Lành, Hồi Giáo và Do Thái Giáo. Sinh viên tại các đại học tư này không cần phải có đạo mới theo học được, nhưng họ phải lấy một số các lớp hoặc môn thần học liên hệ tới các tôn giáo nói trên mới đủ điều kiện tốt nghiệp.


3. Chi phí theo học đại học
Chi phí theo học đại học tại Mỹ có thể thay đổi thật lớn lao, từ rất ít tiền cho tới khoảng $50,000 cho một niên khóa. Chi phí này bao gồm học phí, ăn ở và các chi tiêu về sách vở cũng như học cụ. Tính đổ đồng, chi phí theo học tại nhiều trường đại học có phẩm chất cao ở Mỹ là từ $20,000 cho tới $30,000 một năm.


4. Giá trị của nền giáo dục đại học Mỹ
Theo các con số thống kê năm 2008 của Sở Thống Kê Mỹ, số tiền lương trung bình mà một người Mỹ chỉ học tới lớp 9 (khoảng 16 tuổi) kiếm được là $25,900 một năm. Những người có bằng cử nhân (Bachelor’s degree) kiếm được $45,000 một năm, và những người có bằng cao học (Master’s degree) kiếm được $72,800 một năm. Những người có bằng tiến sĩ (cỡ Ph.D.) kiếm được trung bình $81,000 một năm.


5. Tính đa văn hóa trong giáo dục Mỹ
Trong suốt 300 năm lịch sử dựng nước và phát triển đất nước Mỹ, các học đường là một trong những chốn nơi đầu tiên vừa hấp thụ vừa du nhập các nền văn hóa đa dạng của di dân từ khắp nơi trên thế giới tới định cư trên đất nước này. Các trường học tại Mỹ, cũng giống như xã hội bên ngoài, ngày càng đa dạng về chủng tộc và văn hóa. Hồi đầu thế kỷ thứ 20, con cái của các gia đình di dân -mà hầu hết là từ Nam và Ðông Âu-tràn ngập các trường công ở miền Ðông Bắc và Trung Tây Mỹ. Ngày nay, các di dân mới tiếp tục làm thay đổi số lượng cũng như thành phần học sinh và sinh viên tại Mỹ, và số lượng học sinh và sinh viên nhập cư lớn nhất phải nói là đến từ các quốc gia Mỹ Châu La-tinh và Á Châu.

Học sinh Mỹ gốc Phi Châu chiếm 17% sĩ số tại các trường tiểu học và trung học. Tuy vậy, học sinh gốc Hispanic đang chiếm sĩ số lớn nhất tại các trường công. Cũng là điều bình thường hiện nay khi thấy nhiều học sinh và sinh viên tại các trường học, đặc biệt là dọc theo duyên hải miền Ðông và miền Tây, lúc về tới nhà đã nói hằng chục thứ ngôn ngữ không phải là tiếng Anh, như tiếng Ả Rập, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Việt, bởi vì cha mẹ và ông bà họ là những di dân đến từ nước ngoài. Cũng chính vì thế mà, cho mãi tới bây giờ, các chương trình dạy tiếng Anh làm sinh ngữ thứ nhì vẫn giữ nguyên tầm mức quan trọng như hồi thế kỷ trước. Và mặc dù mang tính địa phương hóa và đa văn hóa như vậy, các trường công lập tại Mỹ vẫn mang một mẫu số chung và có mối liên hệ rất cao trên khía cạnh tổ chức và điều hành. Một sinh viên chuyển trường từ California sang Pennsylvania hoặc Georgia sẽ gặp những khác biệt đương nhiên phải có, nhưng, nhìn chung, nội dung các môn học thì ở đâu cũng thế. Ðiều cần ghi nhận là chính phủ liên bang Mỹ không hề bắt buộc các trường trên toàn quốc phải tuân theo một học trình chung hoặc bắt các trường phải dạy dỗ theo một tiêu chuẩn nào đó như tại nhiều quốc gia khác trên thế giới.

509594 top -
VietDitru A-Z
quản thủ

VietDitru
Sức Khoẻ
Sử Dụng Điều Hành

Bảo lãnh
  Tổng quát
 Công dân Mỹ
  + Anh chị em
  + Cha/mẹ
  + Con ruột dưới 21
  + Con ghẻ dưới 21
  + Con nuôi dươí 21
  + Con độc thân trên 21
  + Con có gia đình
  + Hôn phu thê
  + Vợ chồng
  + Vợ, con riêng

 Thường trú nhân
 (Green card)
  + Con độc thân dươí 21
  + Con độc thân trên 21
  + Vợ chồng
  + Vợ, con riêng


Bảo trợ tài chánh
. Cách tính income
. Điều kiện
. Giấy khai thuế
. Income tối thiểu
. Lệ phí AOF
. Người đồng bảo trợ
. Ý nghĩa I-864
. Ý nghĩa I-864A


Cẩm nang
. Bảo lãnh, định cư
. Nhập cư

Câu hỏi thường gặp
CSPA
. Khiếu nại
. Tính tuổi


Di trú định cư
. Anh chị em
. Cha mẹ có quốc tịch
. Cha mẹ có thẻ xanh
. Con có quốc tịch
. Định cư
. Hôn phu thê
. Lao động
. Vợ chồng


Di trú không định cư
. Chữa bệnh
. Công tác (B-1)
. Du lịch (B-2)
. Du học (F-1)
. Lao động ngắn hạn (H)
. Phóng viên, Báo chí (I)
. Trao đổi khách (J-1)


Du học Hoa Kỳ
. Việc làm du học sinh I
. Việc làm du học sinh II
. Việc làm du học sinh III
. Visa du học


Du lịch Hoa Kỳ
. Cách điền đơn DS-160
. Du lịch Hoa Kỳ
. Thư mời thân nhân


Khám sức khoẻ
. Bệnh cấm nhập cảnh
. Chích ngừa
. Chợ Rẫy
. IOM
. Kiểm tra sức khoẻ
. Thử đàm

Mẫu đơn
. G-325A
. G-1145
. G-884
. I-90
. I-129F
. I-130
. I-131
. I-134
. I-290B
. I-360
. I-485
. I-601
. I-601A
. I-751
. I-765
. I-797
. I-797C
. I-824
. I-864
. I-864A
. I-864EZ
. I-864W
. I-865
. I-912


Mẫu thư liên hệ
. Mẫu thư/Email


Quốc tịch
. Bài học thi quốc tịch
. Bài tiếng Việt
. N-400
. N-565
. N-600

Sức khoẻ (Khám)


Thường trú nhân
. Green card
. 2 năm
. 10 năm
. Giấy miễn thị thực
. Hồi hương
. Mất thẻ xanh
. Mua nhà tại VN
. Quyền lợi trách nhiệm
. Re-entry permit
. Rời Hoa Kỳ
. Rời Hoa Kỳ hơn 1 năm
. Sanh con ngoài HK
. Thay đổi địa chỉ
. Thẻ xanh hết hạn
. Trở về VN làm việc
. Visa nhập cảnh VN


Tiến trình NVC
. Bổ túc người đi kèm
. Cách điền tên
. Các từ tiếng Anh
. Chuẩn bị hồ sơ
. Con chung hộ chiếu
. Con đang học tại Mỹ
. DS-3032
. DS-230
. DS-260
. DS-261
. DS-2001
. Đóng lệ phí
. Khai sinh, hôn thú
. Làm hộ chiếu VN
. Lý lịch tư pháp
. Police certificate
. Thời hạn hộ chiếu VN

PayPal về email:
[email protected]


Chi phiếu gửi về:
Jimmy Ton
4369 46 St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

Thư viện di trú đang được trùng tu và cần nhiều nhân lực. Các bạn nào có chút thì giờ VietDitru mời các bạn tham gia phụ một tay nhé.
Chairman & CEO: "Người hạnh phúc nhất là người tạo nhiều hạnh phúc cho kẻ khác"- Diderot.
cochin: I work here. :) 
nguoidochanh: I work here. :)
SauHai: Phần nhiệm vụ duy trì và phát triển Thư viện Việt Di Trú.
BaoLaTinhChua: I work here. :)
quangtrung: "Nhân nghĩa không cốt giúp cho nhiều mà chính là giúp cho phải lúc"- La bruyère.
paloma: Hello! Welcome to Library of VietDitru.
quannguyen: Hello! Welcome to Library of VietDitru.
hotheart: Hello!
chitam: "Our greatest weakness lies in giving up. The most certain way to succeed is always to try just one more time."- Thomas Edison.
miah: I just work here. :)
muoichanh: VietDitru - Một phần tất yếu của cuộc sống.
Hello World!