.
Gia đình Phật tử VDT
1 ... 10, 11, 12, 13, 14 - bottom
Lưu ý: Tất cả vấn đề về tôn giáo đều nhậy cảm, không khéo xử sự dễ sinh ra chuyện đáng tiếc. VietDitru thiết kế mục riêng để thành viên dễ dàng sinh hoạt. Thành viên phải để ý tế nhị trong cách hành xử.

Cả ơn chị phuong60 rất nhiều vì những bức hình ghi lại buỗi lễ tắm Phật, Lam Nhu chưa được dịp nào dự Lễ Phật Đãn hết nên cũng không biết được không khí và quang cảnh ở đó trang nghiêm như thế nào hết! Một lần nữa cảm ơn chị.

329369 top -
@LamNhulk,

Lễ Phật đản đang được các Chùa lớn nhỏ trong thành phố chuẩn bị, còn Lễ tắm Phật thì ở Chùa Giác Uyển gần nhà chị đã tổ chức lúc 4g00 sáng ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch.

Năm nay, chị thấy các Chùa trang hoàng rất đẹp!


Chúc em thân tâm an lạc.

329378 top -
Dạ chị phương, em cảm ơn chị nhiều ạ. Chùa gần nhà em nơi em Quy Y thì Lễ tắm Phật đúng vào ngày 15 nhưng ngày đó thì em lại phải đi học, em chỉ có thể đi xám hối vào tối ngày 14 thôi chị ạ, em tiếc quá!

Một lần nữa em chúc chị mùa Phật Đản an lành và hạnh phúc!

329560 top -
Khi có một người đi khỏi thế gian
Hạnh Nguyên



Image


Có một hiện thực luôn luôn hiện ra trước chúng ta toàn bộ sự thật của nó là cái chết. Và trước sự ra đi khỏi thế gian này của đồng nghiệp, bạn bè và những người thân, quả thực chúng ta có những giờ phút sống chân thực...



Có thể là buổi sáng khi chúng ta đang uống cà phê, có thể là một buổi chiều khi chúng ta đang trở về ngôi nhà của mình, và có thể một buổi tối khi chúng ta đang ngủ… chúng ta bỗng nhận được tin nhắn hoặc một cuộc gọi thông báo về một người bạn vừa rời bỏ thế gian. Hoặc trong suốt thời gian thức của mình, chúng ta luôn luôn nghe hoặc đọc những lời cáo phó trên đài truyền thanh, trên báo và trên tivi.


Những lúc đó, tôi thường sống im lặng và toàn bộ thế gian mênh mông hiện ra trước mắt. Trên thế gian mênh mông ấy, có một người quay lại nhìn tôi rồi lặng lẽ ra đi vĩnh viễn. Có thể tôi khóc lặng lẽ, có thể tôi thấy một cái gì đó như sự hư vô ùa qua mình, có thể là một ý nghĩ mới về đời sống, có thể là một nỗi tiếc nuối mơ hồ nhưng dai dẳng, có thể là sự thức dậy của ký ức về người đó, có thể là một câu hỏi vô nghĩa nhưng hình như không còn cách khác: “ Vì sao người ấy lại ra đi?” và có thể nó lại là một sự an ủi cho người vừa mất và cả người còn sống.


Quả thực, trong cách nghĩ thô thiển của mình, tôi luôn luôn bị ức chế bởi thế gian này quá chật chội. Chật đến nỗi cả trong giấc ngủ cũng thấy mình ở trong chen chúc, bị vây bủa bởi ngàn vạn con mắt ngờ vực, soi xét. Nhưng khi biết có một người vừa rời khỏi thế gian, kể cả đó là người không hề có bất cứ mối quan hệ nào với mình thì mình cũng cảm thấy thế gian bị bắn thủng và để lại một lỗ hổng.


Nhưng trùm phủ lên tất cả những gì tôi vừa nói trên là một lời nhắc nhở của ai đó. Lời nhắc nhở đó cụ thể là: “Ngươi hãy xem lại cuộc sống của ngươi”. Với cá nhân mình, tôi thường được nghe lời nhắc nhở đó. Chính thế, tôi nghĩ về sự ra đi khỏi thế gian này của con người (có thể là ra đi vĩnh viễn) là lời nhắc nhở của Tạo hóa đối với chúng ta. Hầu hết con người sống trên thế gian này, trong đó có cá nhân tôi, rất hay quên mình phải sống như thế nào với người bên cạnh.


Có lần, một người bạn tôi đặt một câu hỏi nghe có vẻ rất “ngớ ngẩn”: “Tại sao chúng ta không sống với người đang sống như sống với người đã chết?”. Hình như câu hỏi này có điểm nào đó bất hợp lý nhưng tôi chưa biết bất hợp lý ở điểm nào. Nhưng nó có lý ở phía lý tưởng sống của con người. Đó là sự chia sẻ, cảm thông, hiểu biết, nhường nhịn, công bằng và thiện chí. Điểm hợp lý này đã trở thành cái đích của xã hội loài người mà con người trong suốt chiều dài lịch sử của mình luôn luôn tâm niệm và tìm cách đi tới.


Trong thâm tâm chúng ta ai cũng có lần suy ngẫm lại hành xử của mình đối với một đồng nghiệp, một người bạn hay một người thân khi người đó rời bỏ thế gian ra đi mãi mãi. Chúng ta nghĩ nếu người đó sống lại chúng ta sẽ không bao giờ hành xử thiếu thiện chí, bất công, ngờ vực, đố kỵ, thiếu chia sẻ, dửng dưng…với người đó như một đôi lần khi người đó còn sống. Chính thế mà ở một phía ý nghĩa của cái chết, tôi nghĩ rằng: việc thi thoảng có một người đi khỏi thế gian là một cách Tạo hóa nhắc nhở sự quên lãng những ý nghĩa nhân văn trong đời sống của con người.


Vậy tại sao khi người đó còn sống ở bên cạnh chúng ta trong gia đình, trong công sở, trong làng xóm hay trong khu phố thì chúng ta lại cảm thấy khó chịu, thấy ngờ vực và đôi khi căm ghét? Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho chúng ta quên lãng những phẩm chất tốt đẹp vẫn luôn luôn trú ngụ trong con người chúng ta là tính sở hữu của mình. Chúng ta muốn sở hữu danh tiếng, sở hữu công việc, sở hữu một vị trí, sở hữu trí tuệ, sở hữu sự sáng tạo cho đến sở hữu một chiếc xe, một chỗ ngồi, một lối đi trước nhà mình, thậm chí sở hữu cả một cái bàn ăn trong một tiệm ăn. Nhưng thế gian lại không chỉ có một mình chúng ta. Thế là chúng ta tìm nhiều cách chống lại những người khác mà chúng ta cho rằng người đó là nguy cơ chiếm mất những gì chúng ta thèm khát sở hữu như một sự độc quyền.


Có rất nhiều người khi ra đi khỏi thế gian này thì mới được người còn sống tin rằng anh ấy hay chị ấy là một người tốt. Cũng chỉ vì đến lúc đó chúng ta mới “thở phào” nhẹ nhõm rằng những nguy cơ cướp mất sự sở hữu của chúng ta không còn nữa.

Nhiều lúc, chúng ta giống một con gà mái nuôi con xù lông tấn công một con trâu đi qua với ý nghĩ con trâu sẽ ăn thịt đàn con của nó. Nhưng con trâu chỉ biết ăn cỏ và nó không ăn thịt gà chấm muối chanh bao giờ. Nhưng con gà mái không tin chuyện đó. Có lẽ nó bị hình bóng những con cáo hay những con mèo ám ảnh.

Không ít những người đã và đang nghĩ rằng: "Cái chết là một điều gì đó khác với những gì chúng ta vẫn suy nghĩ lâu nay".

Có người nghĩ rằng: "Đời sống chúng ta đang sống là một cánh đồng. Còn cái chết là một cánh đồng bên cạnh mà chúng ta chưa hề biết".

Vậy khi chúng ta đã sống một cách trung thực và không ân hận với đời sống hiện tại thì khi ra đi khỏi đời sống này chúng ta sẽ thanh thản. Chúng ta chưa có ân huệ gặp lại một người trở về từ cánh đồng bên cạnh (sau cái chết) kể cho chúng ta về đời sống ở nơi chốn đó như một người đã đến thăm những khu phố cổ ở Stockhome trở về và kể lại. Ngay sau đó, chúng ta có ước muốn đến thăm những khu phố cổ ấy. Nếu khi chúng ta nghĩ và tin sau cái chết là một cánh đồng sự sống khác thì chúng ta sẽ bớt đi lòng tham và sự ích kỷ của chúng ta.


Có một hiện thực luôn luôn hiện ra trước chúng ta toàn bộ sự thật của nó là cái chết. Và trước sự ra đi khỏi thế gian này của đồng nghiệp, bạn bè và những người thân, quả thực chúng ta có những giờ phút sống chân thực. Và những phẩm tính tốt đẹp trú ngụ trong bóng tối của chúng ta thức dậy và tỏa sáng. Nhưng rồi chúng ta lại quên ngay những điều kỳ diệu đó. Thế là, chúng ta lại hành xử với một người còn sống khác bên cạnh chúng ta với toàn bộ sai lầm mà chúng ta đã mắc phải với người đã ra đi trước đó.

Bởi thế, cái chết, một quy luật tất yếu của thời gian đối với con người, có chứa đựng một lời nhắc nhở những người còn sống hãy sống tốt hơn như con người có thể.


(vietnamnet.vn)

331414 top -
TÂM NHẪN
Thư Phổ


Sơ Tâm là bản thể của Hạnh Phúc, là cội rễ của Khổ Đau,

Tâm là gốc Pháp, tâm chủ tâm sai
Hồ tâm chúng sanh lặng. Trăng hiện bóng trong ngần
...

Image



01. Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

(Nguyễn Du)

02. Mở rộng tâm ra lòng thanh thản
An nhiên tự tại đời thong dong

03. Đời kham khó bất công đừng oán hận
Làm bạn ân tình tức nhẫn tại tâm

04. Nhẫn một chút sóng yên gió lặng
Lùi một bước biển rộng trời cao

05. Chữ nhẫn là chữ trượng vàng
Ai mà nhẫn được đời càng hiển vinh

06. Hồng phúc ân tình lưu sáng mãi
Tâm thành nghĩa trọng vững bền lâu

07. Trần gian là cõi tạm
Có không chẳng bận lòng
Ghét thương đừng vương vấn
Tự tại chiếc thuyền tâm

08. Tâm nhàn muôn sự thông ba cõi
Một tiếng cười khan ấm đất trời

09. Siêng năng quét rác vườn tâm
Cho cây tuệ giác nảy mầm tốt tươi

10. Sống trong cõi mộng vô thường
Nguồn tâm tỏa rạng thoát đường tử sanh

11. Nhẫn nại ôn hòa khi tức giận
Bình tỉnh sáng suốt lúc gian nan

12. Nếu bạn tự có tâm an
Ở đâu cũng thấy như đang ở nhà

13. Nhẹ chuông ai điểm đời hư ảo
Đánh thức vầng trăng sáng tự tâm

14. Có khi nhẫn để bình an
Có khi nhẫn để thênh thang cõi lòng

15. Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để tìm đường lo toan
Có khi nhẫn để vẹn toàn
Có khi nhẫn để tránh tàn sát nhau

16. Chữ tâm độc tự thế mà hay
Thành bại nên hư bởi chữ này
Tuổi trẻ gắng rèn già cố giữ
Cuộc đời gói trọn cả vào đây

17. Một chút giận hai chút tham
Lận đận cả đời ri cũng khổ
Trăm điều lành, ngàn điều nhịn
Thong dong tất dạ rứa mà vui

(Hoà Thượng Thiện Siêu)

18. Cam lồ giọt nước lá sen
Vẫy tay buông xả tâm hồn sáng trong

19. Bình thường tâm thị đạo

20. Bị phỉ báng chẳng sân là khó
Tâm thường bình đẳng là khó
Tùy duyên độ người là khó
Có thế lực chẳng ỷ lại là khó

21. Nhà tranh cửa gỗ đời thanh thoát
Không đúng không sai tự tại tâm

(Trần Nhân Tông)

22. Tâm bình như thủy
Lạc tại kỳ trung

23. Tâm kiêng hẹp hòi
Khí kiêng hung hăng
Tài kiêng bộc lộ

(Khổng Tử)

24. Tiểu sự nhẫn, đại sự thành
An nhiên như thể chưa hề long đong

25. Tri túc tâm thường lạc

26. Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười

(Thiền Sư Nhất Hạnh)

27. Hữu tâm tất thành tựu
Vô nhẫn bất thành nhân

(Đăng Học)

28. Không có hạnh phúc nào bằng sự an tĩnh trong tâm hồn

29. Một hạnh phúc lớn lao chỉ sống trong một tâm hồn giải thoát

30. Đắc nhẫn thành công

31. Tam nhẫn thành hiền
Bách nhẫn thành kim

32. Từ là tâm chẳng sân si
Bi là thương hết không vì một ai
Hỷ là vui vẻ hài hòa
Xả là xóa hết đắng cay vui buồn

33. Giới giữ cho thân sạch lỗi lầm
Cho tâm như ngọc dồi tâm
Cho hoa trí tuệ tươi ngàn kiếp
Cho quả từ bi đẹp bội phần

34. Vạn sự thủy lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm

35. Trăm năm tóc cũng đổi màu
Chữ tâm sáng mãi giữa dòng thời gian

(Bảo Cường)

36. Trần gian bao nỗi thăng trầm
Lấy điều giác ngộ tu tâm tịnh thiền

37. Trắng đen khác một cái nhìn
Đời hư hay thực tâm mình sáng soi

(Đăng Học)

38. Phật ở nơi tâm,
Nhọc chi kiếm tầm
Bởi mê muội ngược xuôi tìm Phật
Cõi trần gian nguồn giác mênh mông

39. Chí tâm niệm Phật muôn đời phúc
Thành tâm niệm Phật vạn niên khang

40. Khởi đầu với kiên nhẫn sẽ kết thúc với niềm vui

41. Nhịn điều sĩ nhục tấm thân yên
Nhịn được hơn thua tránh lụy phiền
Nhịn kẻ thiểu căn lòng đại độ
Nhịn mầm dục vọng đắc thần tiên

42. Nhẫn việc đời mới gọi là hiền
Nhẫn mà thận trọng giữ mình tiên
Nhẫn trong gia tộc ôn hòa điệu
Nhẫn giữa tương lân hiếu thuận duyên

43. Nhịn được cái tức một lúc
Tránh được mối lo trăm ngày
Muốn hòa thuận trên dưới
Nhẫn nhịn đứng hàng đầu
Cái khó của trăm nết
Nết nhẫn nhịn là cao
Cha con nhẫn nhịn nhau
Giữ vẹn toàn đạo lý
Vợ chồng nhẫn nhịn nhau
Con cái khỏi bơ vơ
Anh em nhẫn nhịn nhau
Gia đình thường yên ấm
Bạn bè nhẫn nhịn nhau
Tình cảm chẳng phai mờ
Tự mình nhẫn nhịn được
Ai ai cũng mến yêu

44. Tâm bình thế giới bình
Tâm an vạn sự an

45. Tâm không hay hờn giận
Chẳng oán trách thù ai
Lòng khoan dung rộng rãi
Ấy là cảnh bồng lai

46. Đức trọng nhân trường thọ
Tâm khoan phúc tự lai

47. Sống không giận không hờn không oán trách
Sống mỉm cười với thử thách chông gai
Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai
Sống chan hòa với những người chung sống
Sống là động nhưng lòng không xao động
Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương
Sống hiên ngang danh lợi ta coi thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến

(Hạnh Hải)

48. Hãy cảm ơn ngọn đèn vì ánh sáng của nó.
Nhưng chớ quên người cầm đèn kiên nhẫn đứng trong đêm.

49. Sự kiên nhẫn gặt hái sự an bình
Sự vội vàng gặt hái sự tiếc nuối

50. Tâm hạnh bao dung
Phước tự nhiên thành

(Nguyên Luân)

51. Lắng lòng nhẫn một chút thôi
Sẽ nghe trời đất mở lời yêu thương

(Trần Huệ Hiền)

52. Nhẫn thì biển lặng sóng yên
Nhẫn thì nóng giận ưu phiền nở hoa

(Minh Đức Triều)


-------------------
(Trên đây là những câu thơ sưu tầm vì thế sẽ không tránh khỏi phần nào thiếu sót mong các tác giả Thơ hoan hỷ cho.

Xin chân thành tri ân).


332701 top -
chào anh chị phật tử,em tin vào phật mỗi khi trong lòng cảm thấy buồn và suy nghỉ em thường đến chùa cầu xin phật,đôi lúc cũng khóc trước phât.cầu xin quan thể âm nên thấy tâm hồn nhẹ nhàng,theo phật và đọc kênh phật rất tôt.
nam mô quan thể âm bồ tát phù hộ độ trì cho con được gặp nhiều điều may mắn,cho con xum họp bên gia đình con đã lựa chọn,nam mô a di đà phật

335605 top -
CẶP RẮN TU Ở

CHÙA TRÀ AM (HUẾ)



LÝ TRƯỜNG TRÂN



Năm 1940 là năm mà Việt Nam và toàn cõi Đông Dương bắt đầu nếm mùi khói lửa của cuộc chiến tranh Mỹ Nhật tại Thái Bình Dương lan rộng, và năm ấy tôi đang học tại trường Khải Định Huế. Con nhà nghèo xứ Quảng ra chốn Thần Kinh để học một trường lớn có danh tiếng là một may mắn nhất của thời ấy. Được vậy là nhờ sự cố gắng vượt mức của bản thân, và nhờ sự giúp đỡ của một người anh bà con về mặt tài chánh. Ông này thỉnh thoảng từ Quảng Nam ra Huế để thăm viếng một người bà con đang xuất gia và đang tu tập tại Chùa Trà Am (Huế).

Chùa Trà Am, sau đổi tên Mật Sơn Tự, là một ngôi chùa nhỏ, nằm sau lưng núi Ngự Bình. Muốn đến chùa, phải đi theo con đường đất đỏ, chạy sau lưng núi từ phía An Cựu, rẽ qua trái, băng qua một giòng suối, đi ngang trước nghĩa trang của gia đình họ Nguyễn Khoa, nép theo các hàng tre xanh dẫn đến cổng chùa. Ngôi chùa này cũng như bao nhiêu ngôi chùa ở Huế, có vườn mít, chuối, chè xanh, có một hàng trúc cao bao bọc. Chùa này thuộc loại chùa nghèo, vách xây, mái lợp ngói âm dương, sân chùa lát gạch, bên trong chánh điện lát xi măng, cách xa phía sau chùa khoảng 100m, có ba ngôi tháp mộ của các vị trụ trì đã viên tịch. Mỗi lần anh tôi ra thăm người bà con tại chùa là mỗi lần tôi tháp tùng anh tôi để viếng chùa, lễ Phật, và nếu gặp dịp nghỉ lễ vài ngày, thì tôi ở lại chùa với anh tôi trước khi trở về đất Quảng.

Điểm sâu đậm đặc biệt ám ảnh mãi trong tôi, mỗi khi nhớ Huế là nhớ đến cặp rắn tu ở chùa này. Trong chuyến viếng chùa lần đầu tiên, khi sương chiều buông xuống sau sườn núi Ngự Bình, và sau khi tiếng chuông công phu (Kung-Fu) chiều vừa chấm dứt thì người bà con của anh tôi cho biết là trong chùa này có cặp rắn khổng lồ dưới đất của các ngôi tháp, vào đợt công phu lúc 3 giờ sáng thường hay bò vào chánh điện để nghe kinh, và xong thời kinh, thì bò lại về hang dưới tháp. Theo lời người ấy cho biết thì cặp rắn này ở chùa này đã lâu, rất hiền, không nguy hiểm, không đáng sợ, vì trong mấy năm tu ở đây, ông ta chưa bao giờ thấy hay nghe nói cặp mãng xà này làm hại ai cả, mặc dù ngoại hình dễ làm cho người nào gặp lần đầu cũng phải khiếp đảm vì sự to lớn của thân hình bởi những khoang rằn ri màu vàng và đen sọc trên các vảy dày sắp lớn trên mình. Chúng tôi đang nghe kể lại về chuyện cặp rắn tu thì Thượng Tọa Viện Chủ Chùa bước đến. Với nụ cười hồn nhiên và đôn hậu của một vị chân tu, ông ta nói thêm rằng đừng sợ sệt hay lo lắng chi cả, nhưng lúc đầu chưa quen, thì cứ ngồi yên trên giương, rút chân lên, để xem cặp rắn bò vào nghe kinh. Với sự ngạc nhiên pha lẫn niềm lo sợ, tôi đánh bạo hỏi T.T. Viện Chủ sao không đuổi cặp rắn ấy vào núi, mà để ở gần chùa như vậy, có thể làm hại đến tánh mạng của các vị tu hành, hay các Phật Tử hành hương, thì Thượng Tọa trả lời rằng: “Chùa chiền là nơi thanh tịnh để chúng sinh tìm đến tu tập, nay chúng sinh đã đến đây tu hành nghe kinh thính pháp, mà đuổi họ (chỉ cặp rắn) đi thì không hợp đạo lý, hơn nữa, họ không làm gì hại đến ai cả, vả chăng muốn đuổi họ đi, thì không ai có đủ sức đuổi họ, hãy chờ thời công phu sáng, thì quý vị sẽ thấy họ, và chứng kiến sự hiền hòa của họ.

Nghe T.T. Viện Chủ giải thích như trên, chúng tôi cũng tạm yên tâm, song chưa hết thắc mắc, nằm trên giường nghĩ miên man, mà ngủ hồi nào không hay, đến khi nghe các tiếng chuông của đại hồng chung ngân vang, chúng tôi mới thức giấc, bèn ngồi xổm dậy, xem đồng hồ thì đã 3g30 sáng, và buổi công phu sáng bắt đầu. Tiếng chuông đại hồng kèm theo tiếng niệm danh hiệu các vị Phật của chú tiểu sa di vừa chấm dứt, các đèn dầu và nến được thắp sáng thì T.T. Viện Chủ, đắp y hậu chỉnh tề, bước lên chính điện để niệm hương thỉnh Phật. Xong phần này, Thượng Tọa ngồi trên tọa cụ, một tay chuông, một tay mõ bắt đầu tụng kinh. Độ 5 phút sau, khi chúng tôi còn ngồi xổm trên giường tre, thì bỗng nghe những tiếng đập bạch bạch dưới nền chánh điện, và qua ánh đèn dầu và đèn nến, chúng tôi thấy rõ ràng một con rắn to, dài độ 1m50, thân hình tròn, óng ánh xanh như một ống tre luồng cỡ bằng trái chân người, trên đầu có một cái mồng đỏ như mồng gà trống, nhưng mồng không đứng thẳng mà ngả sang một bên, giống như đội một mũ ca-lô trên đầu. Tiếng đập bạch bạch dưới đất là do cái đuôi rắn đập xuống nền, khi di chuyển, vì hình như có phần cuối của đuôi bị cụt. Tiếp theo sau là một con rắn khác thân hình đen nhánh, vẽ từng khoang, dài độ 2m50, nhưng cái mồng đỏ trên đầu thì nhỏ hơn và đứng thẳng đang bò vào, nhẹ nhàng ít tiếng động hơn. Bò qua cửa xong, thì 2 con chia làm 2 hướng, bò thẳng về phía bàn thờ, leo lên bàn thờ, và quấn tròn mỗi con một bên, gác đầu lên mình, nằm nghe kinh. Đứng xa ngó vào bàn thờ, người ta có cảm tưởng như 2 chồng vỏ xe hơi, sắp lên nhau, thấy mà lạnh gáy. Sau này khi hỏi tại sao một cặp rắn mà con ngắn con dài, 2 mồng trên đầu lại khác nhau, thì người bà con, tu trong chùa, giải thích rất trịnh trọng, bằng cách gọi 2 con rắn ấy là "ông dài" và "ông cụt". Ông cụt là có rắn đực, có mồng lớn, ông dài là con cái, có mồng ngắn. Cách đây mấy năm, cặp rắn này có thân hình bằng nhau, sau vắng bóng một thời gian mấy tháng, khi trở về lại đây, thì con rắn đực bị cụt đuôi, có lẽ qua một cuộc hành trình nguy hiểm trong rừng sâu, hay sau một cuộc chiến đấu sinh tử với một con thú khác trong rừng, nên bị trọng thương, mình mẩy bị đầy thương tích, phải dưỡng thương trong hang dưới tháp mộ mấy tháng. Và trong lúc ấy chỉ có con cái vào chánh điện nghe kinh mà thôi, mỗi buổi sáng. ông ta cho biết thêm, ban đêm vào khoảng khuya, lúc 12 giờ đến 1 giờ sáng, trong chùa nghe những tiếng gà gáy xa xa như tiếng gáy của gà tre, thì đó là tiếng gáy của ông cụt, nhất là trong những đêm trăng sáng..., còn ông dài thì không bao giờ nghe gáy cả.
Buổi kinh mai tụng vừa xong, chuông được một hồi, mõ chấm dứt, trong khi T.T. Viện Chủ quỳ lạy để rút lui, thì cặp rắn từ từ bò xuống, và trườn ra khỏi cửa như khi mới vào, và tiếng động của ông cụt mỗi lúc xa dần, về hướng các tháp mộ. Trong tuần trà buổi sáng, khi gặp lại Thượng Tọa Viện Chủ, ngài mỉm cười hỏi chúng tôi đã thấy cặp rắn ấy chưa, và giảng thêm: “Trong các kinh Phật, quý vị thường nghe nói đến 4 chữ THIÊN LONG BÁT BỘ. Là 8 loại chúng sánh nguyện phát tâm bảo vệ chánh pháp, hộ trì Tam Bảo, mà rắn là một bộ môn trong bát bộ, vì họ cũng biết nghe kinh, thính pháp, tu tập hành trì, nên tâm linh của họ cũng thăng tiến. Và qua một thời kỳ tu tập lâu dài vài nghìn năm cũng có thể tiến hóa từ ngoại vật, súc sanh đến quả vị loài người, và từ cõi người lên các cõi chư Thiên, hay các vị giác ngộ và thành Phật. Quý vị còn nhớ, ngày trước, khi Đức Thích Ca đang tu khổ hạnh, ngồi dưới cội Bồ Đề, trong dãy Tuyết Sơn, có nhiều ngày bị mưa lũ hoành hành các thần rắn đến quấn quanh mình Ngài, dùng 7 đầu xòe ra che cho Phật khỏi mưa ướt, cũng như trong các chuyện Tàu, các mỹ nữ Thanh Xà, Bạch Xà cũng là các con rắn tu lâu năm, Đắc Kỷ hay Nguyệt Cô đều do những con hồ ly tu lâu năm thành người v.v…”

Được hỏi về lối sống của cặp rắn tu, thì Thượng Tọa Viện Chủ cho biết họ không ăn thịt, chỉ ăn những bó hoa tàn, cúng thải ra, các vỏ bầu bí, dưa, mướp đặt dưới chân các tháp mộ. Từ ấy đến nay, sau khi người bà con chuyển tu đến một chùa khác, chúng tôi không có dịp trở lại Chùa Trà Am nữa,... cho đến 30 năm sau, có dịp đến Chùa Già Lam ở Gò Vấp Sài Gòn, để vấn an Hòa Thượng TRÍ THỦ vì lúc trước Ngài có một thời gian dài tu tại chùa Trà Am, khi nhắc đến cặp rắn tu ở chùa này, thì Ngài cho biết là sau ngày rằm tháng 7 năm 1945, trong mùa thu, người trong chùa không còn thấy cặp rắn vào nghe kinh ở chùa Trà Am nữa.

Về các cặp rắn tu, tôi có duyên hội kiến với Thượng Tọa THIÊN TÂM tu ở ngôi chùa sau lưng Vĩnh Minh Thiền Viện ở xã ĐẠI MINH, thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Ngài cho biết có làm lễ quy y cho mấy cặp vợ chồng rắn trong rừng Bảo Lộc, ra quỳ xin ngài quy y dưới dạng hình người, và nhiều cặp rắn khổng lồ đã vào khoanh tròn trên giường trong thiền thất của Ngài, mặc dù Ngài đã khóa cửa rất kỹ, vì khi Ngài ngồi thiền, nhiều cặp rắn đã nằm sát sau lưng Ngài. Các đệ tử của Ngài kể lại, trong tang lễ của Ngài, khi kim quan của Ngài sắp đưa nhập pháp, kim quan được quan lộ thiên để các đệ tử đến đánh lễ, thì một cặp rắn, toàn thân màu vàng, có tỏa ánh sáng, bò đến trước kim quan ngẩng đầu bái 3 bái, và sau đó biến lẹ vào rừng cây xanh ngắt.

Trong đời tôi, thấy rắn và nghe chuyện rắn cũng nhiều như hang rắn tu ở trong núi Sập trong dãy Thất Sơn, con rắn thần khổng lồ Buông Ay Riêng, giữa huyện Cống Sơn giáp ranh tỉnh Phú Yên và Đắc Lắc ở Rừng Lào về, nhưng không có hình ảnh nào khiếp đảm và sống động bằng cặp rắn tu ở Chùa Trà Am, mà đã 50 năm qua, hình ảnh cặp rắn ấy không bao giờ phai lợt, và câu nói nhẹ nhàng của Thượng Tọa Viện Chủ Chùa Trà Am vẫn còn văng vẳng bên tai "Phật dạy: tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, 4 loài: bò, bay, máy, cựa, đều có Phật tánh cả, nếu biết tu hành, không chóng thì chầy, đều sẽ đạt Phật tánh ấy?"

338125 top -
THẬP THIỆN
Thích nữ Hạnh Giải

Cứu cánh rốt ráo của Đạo Phật là "Vô thủ trước Niết Bàn". Cảnh giới ấy một khi thành tựu, bậc giác ngộ sẽ đạt được trạng thái "Vô vi nhi vô bất vi" (Nghĩa là không làm, hay vô sự, nhưng không việc chi là không hoàn tất); "Tùy duyên bất biến" (nương theo mọi duyên nhưng tâm giải thoát không hề biến chuyển). Tóm lại nơi "Vô thủ trước Niết Bàn" mọi công đức đều có thể thành tựu. Tuy nhiên, trong thời gian hành giả tu tập, còn bị kềm tỏa trong vòng "Thủ trước" của "tham, sân, si" thì làm sao thành tựu vô lượng công hạnh khó nghĩ bàn để đến cảnh giới "Vô Ngã". Phật dạy: "Long Vương! Ví như tất cả thành, ấp, xóm, làng đều y địa đại mà được an trụ, tất cả trăm hoa, cây cỏ bụi rừng cũng nương tựa địa đại ấy mà được sanh trưởng; Thập Thiện Nghiệp đạo cũng lại như thế. Tất cả Nhơn Thiên cũng y vào đó mà được an lập, tất cả Thanh Văn, Độc Giác Bồ Đề, các hạnh Bồ Tát, tất cả Phật Pháp đều chung vào đại địa thập thiện này mà được thành tựu." (Kinh Thập Thiện_HT Thích Hòan Quan dịch). Như vậy, xem ra Thập Thiện là pháp môn căn bản, là thềm thang cho mọi pháp môn. Hành giả dù có chí mong cầu phước báu hữu lậu ở cõi nhân thiên, hay hướng về vô lậu giải thoát Niết Bàn, cho đến Vô Thượng Giác, đều phải khởi điểm từ Thập Thiện.

Thập Thiện hay còn gọi là Thập Thiện Nghiệp, Thập Thiện Giới, Thập Thiện Pháp. Tên gọi khác nhau là do tùy cách diễn nghĩa theo các phương diện ứng dụng. Chẳng hạn như khi chỉ nói riêng pháp số thì dùng danh từ Thập Thiện để chỉ cho mười điều thiện bao gồm:

Không sát sanh
Không trộm cắp
Không tà dâm
Không vọng ngữ
Không ỷ ngữ
Không lưỡng thiệt
Không ác khẩu
Không tham lam
Không sân giận
Không si mê

Khi hành giả thọ trì mười điều này để tu tập thì có thể dùng danh từ "Thập Thiện Giới" vì khi đó, 10 điều trên đây được xem như "giới". Xét theo danh tự pháp môn tu thì gọi là "Thập Thiện Pháp". Căn cứ trên mười pháp thiện ấy để thành tựu phước báu nhân thiên và con đường Thánh Đạo thì gọi là "Thập Thiện Nghiệp". Để được đầy đủ, chúng ta sẽ xét trên bình diện rộng của Danh tự mà biện giải: Nghĩa là bắt đầu từ phần thích nghĩa từng chi phần Thập Thiện; kế đến là Thập thiện với hình thức giới; phần ba là pháp môn tu Thập Thiện qua sự phân chia của ba nghiệp (thân, khẩu, ý); cuối cùng là thứ bậc tu tập của Thập Thiện (từ sơ khởi cầu phước báu nhân thiên, đến 37 pháp trợ đạo cầu quả Thanh Văn, Lục Ba la mật để thực hành Bồ Tát Đạo cầu Vô thượng giác). Tuy nhiên, vì tính chất tương đồng nên phần Thập Thiện Giới sẽ được giải thích cùng phần thích nghĩa chi pháp (gộp chung phần 1 và 2).

I. "Thập Thiện" và "Thập Thiện Giới":

Như trên đã nêu qua, Thập Thiện bao gồm mười điều: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm (có văn bản dùng từ "không tà hạnh"), không nói dối, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không tham, không sân, không si. Nhưng xét chi pháp theo Phật Giáo Nam Truyền thì có khác đôi chút như về danh từ như: Bốn chi pháp thuộc về lời là không được nói dối, không được nói đâm thọc, không được nói độc ác, không được nói viễn vong; các chi thứ 8,9,10 là không được tham muốn gắt, không được thù oán, không tà kiến.

Không sát sanh: "Sát sanh" là đoạn ngang sanh mạng, dứt ngang mạng sống của kẻ khác. Người không sát sanh thì không được tự cầm khí giới giết, hoặc miệng mình sai bảo ai đó đoạn mạng kẻ khác, cũng không được thấy sự giết hại mà ý mình hoan hỷ (tỏ vẻ hài lòng, đồng ý, vui theo việc đó). "Kẻ khác" được đề cập ở đây bao gồm chúng sanh mọi cảnh, như trong văn giới đề cập bao gồm "trên từ Thánh nhân, phụ mẫu; dưới cho đến loài bò bay máy cựa vi tế côn trùng", có thể hiểu là không được đoạn mạng bất cứ một chúng sanh, một cá thể có tình thức nào. Chẳng những không được tự tay, trực tiếp đoạn mạng kẻ khác, mà ngay cả việc dùng phương tiện như đá, bẫy, thuốc độc… hoặc gián tiếp sai sử người làm, hoặc mưu tính đưa kẻ khác vào chỗ chết như xúi chết, bày kế mưu khiến kẻ kia lâm vào thế phải chết, hay bất cứ hình thức gián tiếp nào cũng không được. Thậm chí cho đến nảy sanh ý muốn kẻ kia phải chết, hoặc nghe kẻ kia chết mà khoái ý đều phạm vào ác pháp, tức vi phạm điều thiện thứ nhất. Về mặt giới thì căn cứ trên bốn điều
Cố tâm giết
Đối tượng giết
Phương tiện giết
Việc hoàn tất
"Cố tâm" tức là vì sân giận, vì tham quyền lợi, danh vọng, vì oan trái thù hận… nói chung do một động cơ nào đó khiến tâm khởi lên ý nghĩ muốn chấm dứt sự sống của kẻ khác. Như thích ăn một món thịt gà_ ý nghĩ này khởi lên từ tâm tham vị_ dẫn tới tâm muốn giết con gà, cũng từ tâm này thôi thúc nên phải bằng cách nào đó giết con gà kia. Cũng theo thí dụ trên, con gà là "đối tượng" bị giết. Nếu người kia dùng tay giết thì "phương tiện giết" là "nội sắc" tức là dùng tay, chân, thân thể, những gì thuộc nội thân. Dùng đá, cậy, dao… khi ấy phương tiện là "ngoại sắc". Ở đây "cách thức" cũng kể vào phương tiện như "trực tiếp" (tự tay làm) hay "gián tiếp" (biểu người khác làm). Nếu như con gà mình muốn giết đã bị giết chết rồi, như vậy là điều kiện kết tội đầy đủ, xem như trọn vẹn phạm giới "Không sát sanh". Tuy nhiên, nếu không hội tụ đủ bốn điều trên thì tội kết nhẹ hơn. Chẳng hạn như muốn giết con gà này nhưng lại giết nhầm con khác tức điều thứ ba có phần khuyết, song vẫn có tội, nhưng không kết trọn vẹn. Hoặc phương tiện giết không thành công, con gà bị giết chưa chết thì chưa kết tội trọn vẹn. Nói "trọn vẹn" hay "hay không trọn vẹn" là thay thế chữ "trọng" và chữ "khinh". Điều này thấy rõ khi đối tượng được thay thế là người. Như vậy, mức độ "trọng" hay "khinh" là còn tùy thuộc vào cấp độ phạm của từng phần đặc biệt là "đối tượng sát". Chẳng hạn đối tượng là A-la-hán hay cha mẹ thì cực trọng (rơi vào thất nghịch hay ngũ nghịch), còn ruồi, muỗi, sâu, bọ dĩ nhiên là khinh tội. Cố tâm thì tội nặng hơn khi lòng có sự rụt rè hối hận.

Không trộm cắp: "Trộm cắp" tức khiến kẻ khác lìa mất vật sở hữu của họ. "Kẻ khác" cũng được kể rộng như trên. "Lìa mất" nêu ở đây tức là đem đi nơi khác, không hoàn trả (trừ trường hợp vì cấp bách, không có chủ nhân khởi ý mượn tạm, hoặc vì thân tình có thể tạm dùng và việc ấy không gây ra sầu, bi, khổ, ưu, não cho chủ sở hữu). Ở đây, đối tượng là vật có chủ, "vật sở hữu" theo văn giới "từ vàng bạc châu báu cho đến cọng cỏ lá rau, phàm có chủ sở hữu đều không được lấy. Chẳng hạn như con chó có một khúc xương, khúc xương là vật mà chó đang sở hữu, ta đoạt lấy của nó, đây cũng phạm tộ . Chữ "lìa mất" tức là đã lấy đem đi, ở đây phương tiện lấy kết rộng như giới không sát sanh, nghĩa là trực tiếp lấy hay gián tiếp, khiến người lấy, lừa lấy v.v…Đại khái là khởi lên ác tâm muốn chiếm đoạt tài vật của người khác (chúng sanh khác), tìm phương tiện để lấy, việc lấy thực hiện xong, điều kiện kết tội như giới thứ nhất.
Không tà dâm: Người tại gia, giới này dùng từ "không tà dâm", nhưng đối với bậc xuất gia thì "không dâm dục". Chữ tà chỉ cho việc dâm của người thập thiện không chính đáng, vì tại gia, người tu thập thiện có thể có vợ con cho nên chưa trọn dứt đường dâm dục. Nhưng nếu ngoài người hôn phối của mình ra, người tu thập thiện cùng người khác làm việc dâm dục, đây là phạm vào tà dâm. Ngoài ra, nếu đối với người hôn phối của mình, việc dâm dục thực hiện: phi đạo (không phải đường), phi xứ (không phải nơi phòng the của riêng vợ chồng), phi thời (không phải thời gian của vợ chồng sinh hoạt), rơi vào ba trường hợp này đều phạm.

Không nói dối: Nói dối tức là chuyện thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, biết nói không biết, không biết nói biết, xấu nói tốt, tốt nói xấu, có nói không, phải nói quấy… Dối trá không thật. Người tu thập thiện không được phạm vào. Đặc biệt sẽ kết trọng ở tội "đại vọng ngữ". Đại vọng ngữ là tu hành chưa chứng tự xưng là mình đã chứng các pháp thượng nhân, pháp các bậc Thánh. Người phạm đại vọng ngữ sẽ sa về tà đạo, đọa lạc tam đồ, rất nguy hiểm.

Không lưỡng thiệt: Lưỡng thiệt là nói lưỡi hai chiều, tức là nói lời chia rẽ, đến người kia nói xấu người này, đến người này nói xấu người kia, xúi dục bà con bất hòa, thân tình thù oán. Người Việt ta có câu "đòn xóc hai đầu" hay là "đâm bị thóc, thọc bị gạo". Người tu thập thiện phải tránh nói lời đôi chiều dẫn đến kết quả oan trái giữa người và người, không chỉ riêng lời nói mà ngay cả hành động khiến chia rẽ cũng phạm tội này.

Không ác khẩu: Ác khẩu là lời nói thô tục, mắng nhiếc, chưởi rủa, nguyền rủa, trù rủa v.v…Thường ác khẩu hay bắt đầu từ sự sân giận, bực tức. Kinh sách có câu "một cơn sân giận đốt cả rừng công đức". Người tu thập thiện không được nói những lời gây xúc não, thiêu đốt tâm thức người khác mà ngược lại phải nói lời "ái dưỡng tâm thức".

Không ỷ ngữ: Ỷ ngữ là nói lời vô nghĩa lý, lời nói ủy mị khiến người điên đảo tâm hồn, chẳng còn phân biệt thị phi, nhiều khi đưa đến tán gia bại sản hoặc gây ra tội lỗi. Ví dụ như thầy của Ương Quật Ma La dụ bảo đệ tử mình rằng: Nếu giết đủ 1000 người sẽ có sức mạnh vô song, thành tựu thượng pháp của ông dạy, kết quả là Ương Quật Ma La đã đón đường giết 999 người, may nhờ Phật độ giải thoát, nếu không ngay cả người mẹ mình, Ương Quật cũng không chừa. Ỷ ngữ thường bắt đầu bằng lòng ghanh tị, tật đố, ý muốn hại người và sắp bài âm mưu bịp người khiến họ tự sa vào đường dữ. Lắm khi ỷ ngữ bắt đầu từ sự hoang tưởng, ngu tối, người nói cũng không rõ mình nói việc như thế hậu quả sẽ đi về đâu. Người tu thập thiện phải nói hợp với Phật Pháp, không vì lợi mình hay tật đố mà bịa chuyện hại tha nhân.

Không tham: Tham đây nói đủ là tham dục. Chữ dục chỉ cho các món ngũ dục trong nhân gian gồm: tài, sắc, danh, thực, thùy (tài lợi, sắc ái, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ). Khi hành giả đối diện với năm món dục trên, tâm cuốn hút theo, lòng muốn hưởng thụ nên tìm cách thủ lấy, vì muốn đạt được những gì mình yêu thích, đôi lúc không từ thủ đoạn, dẫn đến tội lỗi. Do đó, đối với ngũ dục phải giữ tâm mình không được đắm trước vào.

Không sân: Đối với cảnh vừa ý thì sanh tâm tham như trên đã nêu, ngược lại đối với những gì mình không ưa, trái ý liền sanh tâm chán ghét, sân giận. Kinh nói: "Nhất niệm sân tâm khởi, bát vạn chướng môn khai". Niệm sân cội gốc sâu xa nơi cố chấp ngã và ngã sở. Vì yêu quí tự ngã, tất cả vun vén cho tự ngã, coi tự ngã là tối thượng, là trung tâm điểm của vũ trụ nên một sự kiện, một sự vật nào trái với sự yêu thích của tự ngã khiến bạn nổi lên cơn sân giận. Pháp Phật thành tựu nơi vô ngã, do đó ngã chấp càng kiên cố, sân niệm càng cao; sân niệm càng cao càng khó xả ngã. Ngoài ra, vì sân giận sẽ tạo ra nhiều ác nghiệp khác khiến đọa lạc vào ba đường khổ. Người tu thập thiện phải kiểm soát tâm mình ra khỏi các niệm sân.

Không si: Chữ "Si", theo như Phật giáo Nam truyền chỉ cho "Tà kiến". Nếu dùng chữ ngu si thì có thể hiểu lầm là sự ngu dốt, không biết gì, do đó không đủ nghĩa bằng khi dùng chữ "Tà kiến". Nếu như một người hiểu biết rộng rãi, quảng bác kiến thức nhưng lại không tin nhân quả thì chẳng qua là hàng "thế trí biện thông", như vậy, dù không ngu si nhưng cũng không hiểu được thế nào là Phật pháp, rốt cuộc rơi vào thường kiến hoặc đoạn kiến, sa vào tam đồ ác đạo. Người tu thập thiện, phải hướng đến trí huệ giải thoát, thân cận bậc thượng nhân, bậc Thánh, hoặc Thánh đệ tử để hiểu được chân thiện pháp.

II.Pháp môn tu Thập thiện:

Mười chi pháp nêu trên được chia ra ba phần tương ứng với ba nghiệp thân, khẩu, ý. Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm là ba điều thiện thuộc thân nghiệp. Không nói dối, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ thuộc về khẩu nghiệp. Không tham, không sân, không si thuộc về ý nghiệp. Luận về nghiệp báo, vô lượng tội lỗi đều nương nơi thân khẩu ý mà tạo tác. Do đó, tu thập thiện là pháp môn diệt tội lỗi nơi thân, khẩu, ý. Khi thành tựu pháp môn rồi lúc đó gọi là "Tam nghiệp thanh tịnh". Xét như trên đã nêu về giới, Thập thiện giới cũng coi như là pháp môn tu, Nhưng nếu giới đã nêu lên sự tu tập, không cần luận bàn thêm về pháp môn tu! Bây giờ, nêu Thập thiện pháp như là pháp môn tu tập, như vậy có sự khác biệt nào ở đây? Khác ở nơi phần trên là phân biệt về giới, còn phần này sẽ phân lập ra thân, khẩu, ý để trình bày. Trong đó chia chẻ trình bày nhân tu và quả thành tựu như là một pháp môn hẳn hòi.

Thân nghiệp:
Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.

— Không sát sanh: Như trên đã nêu về giới, phàm hễ chúng hữu tình có sanh mạng không được đoạn dứt. Quả báo của tội sát sanh là: Hiện đời người ta chán ghét; họ hàng, muôn thú ghê sợ (đây là hoa báo). Quả báo rơi vào ba ác đạo. Dư báo các đời sau sanh lên thường bị giết hại, mạng yểu. Ngược lại, người không sát sanh sẽ được cuộc sống an ổn, không phải lo sợ về hoạnh tử, oán hại, tuổi thọ các đời sau lâu dài. Sơ cơ tu tập bất sát có thể còn gặp nhiều khó khăn như khó khăn về nghề nghiệp: Người làm ruộng phải giết sâu bọ, người đang làm nghề chày lưới; khó khăn về quốc nạn: Vì ngoại xâm, binh biến, người ra chiến trường phải giết giặc…Do đó, người lập nguyện tu tập phải biết khéo tìm môi trường thuận lợi, khéo hộ trì các căn để không thấy, không nghe việc giết chóc, sân giận dẫn đến giết, tránh việc thấy giết mà vui theo. Dần dần phước đức, công đức do trì giới bất sát thành tựu, khi đó sẽ đạt đến trạng thái "nhậm vận tự nhiên bất sát", như bậc thánh quả Tu Đà Hoàn cuốc đất côn trùng sẽ tự cách bốn tấc. Khi đó quanh ta khí sát cũng tiêu tán dần khiến cho muôn thú không sợ, người khác không sợ bị ta làm hại, trường hợp này cũng giống như chuyện các vị Tổ sư trong Phật giáo vào núi rừng tu tập, voi, hổ, báo, chim chóc đến ở gần bên nghe thuyết pháp. Muôn thú không sợ người, cũng không làm hại người; ngược lại, người không sợ muôn thú và cũng không có ý sát hại.

— Không trộm cướp: Tiền bạc, của cải đôi lúc người ta xem trọng như sinh mạng của họ. Nhân gian có câu: "Đồng tiền là núm ruột", của cải vật chất cũng vậy, nên khi bị tước đoạt mất, người ta đau khổ tưởng chừng như mạng sống bị đoạn dứt. Lắm khi anh em trong nhà chỉ vì tranh giành của cải mà xô xát, hại nhau. Tài vật đối với lòng tham của con người ảnh hưởng rất lớn! Quả báo của hành động cướp đoạt là: Đời này bị pháp luật ràng buộc, gia hình, họ hàng khinh khi xa lánh vì sợ bị mất của; tội báo đời sau bị đọa vào địa ngục, ác thú phải thường chịu đói lạnh. Nhiều kiếp lâu sau mới được sanh làm người, dư báo luôn bị đói khát, nghèo cùng khốn khổ.

Người tu thập thiện hiểu được sự nhiệt não do lòng tham đem lại, thấu hiểu nỗi đau khổ của sự mất mát, và quả báo nguy hiểm của sự cướp đọat, do đó phát nguyện giữ gìn giới hạnh không tước đoạt tài sản người khác, chúng sanh khác. Sơ phát tâm tu tập giới này không khó như giới bất sát, tuy nhiên hành giả phải có nhẫn lực cao, ý chí lớn. Vả như nhiều đời nhiều kiếp hành giả chưa từng bố thí, nay rơi vào trạng huống quá cùng khổ, kẻ nghèo khổ lại dễ làm càn: "Bần cùng sanh đạo tặc". Nhưng hành giả thủ tâm bền chí tu tập, cam chịu đói nghèo, không vì đói khổ mà xâm đoạt của phi nghĩa để sinh tồn. Khi giới thành tựu, phước báo là tài sản không bị cướp bóc, xâm đoạt. Tuy nhiên, giới này phải chỉ tròn vẹn khi tu tập chung với giới về ý là "không tham", tiến lên cấp bậc cao hơn: chẳng những không tham, không cướp đoạt mà còn bố thí, như vậy mới trọn vẹn, trở thành một người có phước đức lớn, không bao giờ đói nghèo. Cao hơn là thành tựu được thất thánh tài, tùy tâm mãn nguyện.

— Không tà dâm: Dâm dục là nhân sanh tử luân hồi. Vì luyến ái, người ta phải nhiều đời nhiều kiếp ra vào thai mẹ, chịu khổ trong sáu đường. Người tại gia chưa dứt hẳn đường dâm dục, có thể do còn luyến ái, hoặc phong tục tập quán dân tộc hay gia đình, gia tộc ràng buộc phải sống trong đường chồng vợ, do đó tâm phải giữ cho đoan chánh, lòng nghĩ việc kia như là bổn phận trách nhiệm, không coi đó là lạc thú để đắm trước vào. Với người hôn phối của mình, việc thọ lạc còn coi như là khổ hình, huống chi lại đi tìm thú vui ở người khác. Luận về tội ngoại tình hay mua bán xác thịt và những tội lỗi tương tự, nhân gian người ta xem như là điều đáng kinh tởm. Lỗi này dẫn đến việc tan nhà nát cửa, chồng vợ nghi kỵ, lìa xa nhau, có khi vì ghen tuông mà hại mình hại người… Do đó người tu thập thiện phải phát nguyện thanh tâm chánh trực. Quả báo đời này là pháp luật gia hình, hổ thẹn, nhục nhã. Đời sau thác sanh nơi ngục ô uế, sanh vào loài bồ câu uyên ương. Dư báo làm người sẽ bị phản bội, người yêu thương xa lìa, nghi hiềm v.v…Trọng tâm của việc tu thiện giới này là xa lìa tâm đắm ái. Gẫm chúng sanh nhiều đời kiếp oan tình theo nhau, khi thì làm cha mẹ, khi thì vợ chồng, lúc anh chị em, thân bằng quyến thuộc, cho nên lúc câu sanh một nơi, người thân tiền kiếp dễ sanh tơ tình, từ đó đưa đến việc ràng buộc tâm tư, tìm đến với nhau, kẻ nối lại thân tình, người thì sanh oan trái… rốt cuộc tạo ra nhiều ác nghiệp. Sơ phát tâm vì nghiệp duyên ái tình còn nặng, hành giả không khỏi khổ lụy đảo điên, hoặc bị quấy phiền, nhưng nếu tâm tư trong sáng, tình không nơi chiêu cảm, dần dà qua nhiều kiếp đời phôi pha sẽ được tự tại, không còn bị duyên tình quấy nhiễu. Phước báo của người trì giới này thân tâm sáng sạch, thanh tịnh, người trời, chúng sanh thấy đều yêu thích.

_Kết lại: Ba giới này xếp về sự tu hành thân nghiệp, giữ thân nghiệp thanh tịnh. Trọng điểm ở đây là thân không làm ác. "Ác pháp" chỉ cho sự gia hại tha nhân (chúng hữu tình khác). Gia hại ở đây chính là sự xâm đoạt: Đoạt mạng là sát sanh, đoạt của cải là trộm cướp, đoạt tình là tà hạnh. Như vậy, đối với chúng sanh hành giả tu "thân nghiệp thanh tịnh" sẽ không có bất kỳ hành động xâm đoạt nào tổn hại đến tính mạng, tài sản, tình cảm của họ. Quả báo đối đãi ở đây là chúng sanh sẽ được sống yên ổn, đầy đủ sự tin tưởng bên hành giả, ngược lại hành giả cũng không bị phiền nhiễu, rắc rối hay đau khổ khi không gây ác nghiệp. Tóm lại là thành tựu "thân thiện nghiệp".

Khẩu nghiệp:
Không nói dối, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ.

Về cách phân tích từng chi phần cũng tương tự như thân nghiệp. Ở đây chỉ cần nói chung về nhân quả, phước báo trì giới và thành tựu bốn thiện giới về khẩu.

Với việc nói dối khiến chẳng phân biệt được phải trái, làm cho người nghe đảo điên, nghi kỵ, tin nhầm dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Quả báo việc này là bị tội đọa sanh vào địa ngục hắc ám, dư báo sanh vào loài cầm thú ngu muội, sanh vào loài người cũng ngu si mê muội… Nói lưỡng thiệt (gây chia rẻ) dẫn đến thân bằng quyến thuộc chia lìa, nghi kỵ hiềm khích lẫn nhau, quả báo thường rơi vào địa ngục canh thiệt (kéo lưỡi trâu cày như trong kinh Địa Tạng diễn bày), đến khi được sanh làm người, dư báo khiến rơi vào cảnh quyến thuộc chia lìa, kình chống lẫn nhau…Ác khẩu khiến người sanh tâm nhiệt não oán hờn không dứt, dân gian thường vì câu nói ác mà "sống để bụng, thác mang theo". Vì nhân gieo sự oán hận cho người nên tội báo cũng sa vào địa ngục, hoặc sanh vào loài quỉ miệng thường phát ra mùi hôi thúi, thân thể ghê gớm, xấu xí. Đến khi hết tội hình trong ác đạo, sanh vào loài người cũng trong thân hình xấu xí, môi hở, răng xiêng vẹo… Nói lời ủy mị, khiến người hoang tưởng mơ hồ, thêu dệt chuyện không đâu, làm cho người nghe mất tín tâm, mất chánh niệm, tội báo tương tự cũng sa vào chốn ngục tối tăm, khi được sanh vào loài người cũng đảo điên, mờ tối…Tất cả các tội nghiệp do khẩu gây ra, nếu đối với Tam bảo thì tội càng nặng hơn muôn vạn lần, như việc nối dối với Bậc Thánh, ác khẩu hủy báng tam bảo, lưỡng thiệt phá hòa hợp tăng như vậy tội sẽ kết vào một trong ngũ nghịch hoặc thất nghịch, sa vào A-tỳ ngục.

Người tu thập thiện, trước ý thức tội lỗi do khẩu gây ra, sau phát nguyện tu hành giữ bốn giới về khẩu. Phước báo sẽ được quyến thuộc thương mến, lời nói ra được nhiều người tin tưởng. Có những bậc tu thành tựu giới này, lại hay khéo dùng lời khuyến khích người tu trì tin tấn, tụng kinh Đại thừa như Diệu Pháp Liên Hoa, miệng người đó thường tỏa mùi thơm, chư thiên, quỉ thần kính tin hộ vệ.

_Kết lại: Bốn giới kế tiếp là thành tựu sự thanh tịnh về khẩu. Tu tập tránh nhân ác do lời nói đem lại. Lời nói có ác có căn bản có bốn: dối trá, đâm thọc, ác độc, xảo ngụy. Tuy nhiên, hành giả cần tìm ra điểm quan trọng bắt nguồn nhân tội lỗi của khẩu, cũng như ác nghiệp về thân, ác nghiệp về khẩu căn cứ trên sự gia hại, từ lời nói tác động vào tâm tư người: Nói tác động tâm tư khiến người mờ mịt về mình (dối xưng là bậc thánh) hay về người khác, sự vật khác, khiến người không phân biệt phải trái là dối; nói tác động tâm tư khiến chia rẽ là lưỡng thiệt; nói tác động khiến người đau khổ là ác khẩu; nói tác động tâm tư khiến người mất chánh niệm đảo điên mờ mịch là ỷ ngữ. Như vậy, điểm quan trọng khi tạo ác nghiệp về miệng là dùng lời tác động vào tâm tư để đưa đến một kết quả tồi tệ cho người khác. Hiểu rõ điều này, hành giả tu "khẩu nghiệp thanh tịnh" sẽ ngăn dè, cẩn trọng lời nói, chỉ nói lời nhu hòa, lời tốt đẹp đem lại lợi ích cho tha nhân. Không vì bất cứ lý do nào nói ra lời gây oan trái, chia rẽ, tổn hại đến tâm tư, công việc của người khác, chúng sanh khác. Như vậy là thành tựu "khẩu thiện nghiệp"

Ý nghiệp:
Không tham, không sân, không si (không tà kiến).

Tham sân si là tam độc, là cội gốc phát khởi mọi tội lỗi. Phàm khi người ta nhấc chân, cử tay thảy đều lấy ý làm đầu: "ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ ý tạo", chính ý tạo nhân chủng cho ngã chấp, luân hồi. Nếu không có ý làm chủ, không tác thành nghiệp nhân được, chỉ là cây khô, sỏi đá mà thôi. Người tu thập thiện, nếu muốn mình có lộ trình tốt đẹp cho mai hậu, phải bắt nguồn từ nơi ý, ở nơi ý này, nếu muốn ngăn chặn và lìa được tham, sân, si, hành giả phải luôn tỉnh giác, ý thức được diễn biến tâm tư mình trước sự việc. Tu tập ý không tham, không sân, không si để thành tựu "ý thiện nghiệp". Tại sao ở đây không dùng "ý nghiệp thanh tịnh". Vì ý quyết định rất lớn đến cảnh giới tái sanh hoặc không tái sanh, nếu còn tái sanh, coi như thành tựu thiện nghiệp về ý, thanh tịnh từng phần. Còn nói rốt ráo thanh tịnh, theo Duy thức học, A-lại-da sẽ chuyển thành Bạch tịnh thức nghĩa là thành tựu "tuệ giải thoát". Tu tập thiện nghiệp về ý đạt đến rốt ráo, điều này sẽ được khai triển trong phần III.

_Kết lạïi: Tu tập thiện nghiệp về ý là căn bản để thành tựu cả thiện nghiệp về thân và khẩu. Sở dĩ có thân ác nghiệp, khẩu ác nghiệp cũng bắt đầu từ tham ý, sân ý, si ý mà ra. Song hành giả cũng cần ý thức trọng điểm để dẫn đến sai phạm. Vì sao có tham khởi, sân khởi, si khởi. Tất cả từ sự sai lầm chấp có bản ngã, vì có bản ngã sanh ngã sở, từ ngã và ngã sở đó sanh ngã ái, do ngã ái khống chế nên những gì tự ngã yêu thích sẽ khởi ý thủ lấy khiến tham sanh, những gì trái lại ngã ái khiến sân sanh, và ý niệm lưu trữ một cái ngã tồn tại, gìn giữ vun vén đó là tà kiến hay là si. Hành giả tu tập " ý nghiệp thanh tịnh" phải luôn tỉnh giác chân lý "vô ngã", nếu không đạt đến kiến tri vô ngã, việc tu hành thân thiện nghiệp, khẩu thiện nghiệp cũng có thể thành tựu, nhưng chỉ đạt phước báu nhân thiên và có thể hoàn thành ý thiện nghiệp, nhưng chưa đi đ?n chỗ "ý nghiệp thanh tịnh".

III. Thứ bậc tu tập:

Thông thường, tu pháp thập thiện được đa số Phật tử nghĩ như là một pháp môn cầu phước báu sanh thiên. Thực chất như phần trên đã nêu: "Ví như tất cả thành, ấp, xóm, làng đều y địa đại mà được an trụ, tất cả trăm hoa, cây cỏ bụi rừng cũng nương tựa địa đại ấy mà được sanh trưởng; Thập Thiện Nghiệp đạo cũng lại như thế. Tất cả Nhơn Thiên cũng y vào đó mà được an lập, tất cả Thanh Văn, Độc Giác Bồ Đề, các hạnh Bồ Tát, tất cả Phật Pháp đều chung vào đại địa thập thiện này mà được thành tựu." Nghĩa là Thập thiện là pháp môn căn bản để thành tựu vạn hạnh từ thấp lên cao, từ địa vị nhân thiên đến Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật Đạo. Vì sao pháp này lại đặc thù như vậy? Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu qua cách lập pháp. Giáo lý trọng điểm tu tập của Phật giáo đều y cứ theo nhân quả, như Tứ Thánh Đế lập pháp trên nhân quả thế gian và xuất thế gian: Khổ, Tập là nhân quả trong Tam giới luân hồi; Diệt, Đạo là nhân quả của xuất thế gian. Thập Thiện, nói đủ là Thập Thiện Nghiệp Đạo, nghĩa là con đường hạnh nghiệp căn cứ trên mười điều thiện. Con người đối với thân, khẩu, ý gây ra vô lượng vô biên điều ác, tuy nhiên tổng quát phân chia không ngoài mười chi phần: ba chi thuộc về thân (sát sanh, trộm cướp, tà hạnh), bốn chi thuộc về khẩu (vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ), ba chi thuộc về ý (tham, sân, si hay tà kiến). Ngược lại mười điều ác là mười điều thiện, tất cả đều y cứ theo nhân quả! Tạo mười ác nghiệp nặng thì rơi vào tận cùng địa ngục trong nhiều kiếp, nhiều ngàn kiếp v.v… nhẹ thì rơi vào ngạ quỉ súc sanh, hay làm loài người trong tư thái thấp hèn. Ngược lại với mười điều ác là mười điều thiện. Căn cứ vào nhân quả, tu mười điều thiện thành tựu phước đức, công đức theo thứ bậc như sau:

Sơ tâm tu tập, chỉ ngăn dứt mười điều ác, hiện đời (hoặc đời sau sanh vào cõi người) sẽ được hạnh phúc an vui tương ứng với nhân quả như sau:

Không sát sanh: Thân thường không bệnh, mệnh sống lâu dài, thường được phi nhân (quỉ thần) ủng hộ, thường không ác mộng thức ngủ an vui; oán nghiệp được tiêu trừ, oán thù tự giải; không sợ sa vào ba đường dữ.
Không trộm cướp: Giàu có của cải, không bị năm thứ cướp hại (vua quan, giạc, nước, lửa, con hư). Nhiều người thương mến, không bị người phụ bạc, lừa gạt. Mười phương khen ngợi, tiếng lành đồn khắp. Không lo bị tổn hại, vào nơi đông người không sợ hãi, hổ thẹn.
Không tà dâm: Các căn điều thuận, xa lìa sự rộn ràng, người đời khen ngợi. Vợ (hay chồng) không ai xâm phạm, cũng không phụ bạc.
Không vọng ngữ: Được người đời tín phục. Miệng thường tỏa mùi thơm. Lời nói tín chứng, người trời tín phục. YÙ vui thù thắng, tâm không chao động.
Không lưỡng thiệt: Thân bất hoại, không ai làm hại được. Bà con bất hoại, không bị chia rẽ. Tâm lực tu kiên cố, lòng tin bất hoại. Được bằng hữu tốt, thiện tri thức tốt, không lừa dối nhau.
Không ác khẩu: Lời nói hợp lý, đẹp đẽ, có ích lợi. Người nghe sanh lòng vui, tin tưởng, không chê bai.
Không ỷ ngữ: Thành tựu như thật trí, đối đáp biện tài, có oai đức tối thắng với nhân thiên, không hư vọng.
Không tham: Ba nghiệp tự tại, các căn đầy đủ. Của cải tự tại, đáp ứng mong cầu, oán tặc không cướp đoạt được. Đuợc phước báu thù thắng.
Không sân: Trong lòng không bị tổn não, sân hận, kiện tụng. Tâm nhu hòa, khí sắc tươi nhuận. Người không oán ghét, cảm thấy an lạc khi đựơc sống gần hành giả.
Không si: Trực tâm chánh kiến, xa hẳn sự ngờ vực kiết hung. Thâm tín nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm điều ác. Được gần gủi thiện tri thức, kiến giải vô ngại. Duy nhất qui y Phật, không lạc ác đạo.
Sau khi mãn thân này, sẽ được sanh thiên. Phước được sanh thiên hầu như là pháp ấn định của Thập thiện nghiệp, do đó chư Phật t? thường nghĩ "muốn sanh thiên, tu theo thập thiện". Tuy nhiên, điều này không hẳn như vậy. Người tu thập thiện phước báu lớn, có thể sanh thiên, nhưng cũng có khi sanh vào cõi người hoặc các cõi khác tùy nguyện lực của mình. Thành tựu ấy thuộc phước báu. Nếu hành giả trong quá trình tu tập, lập công bồi đức theo Thánh Đạo: Thanh Văn, Bồ Tát và Phật Thừa thì nhân quả sẽ chuyển theo hướng khác. Khi đó, thân, khẩu thanh tịnh nhiếp về giới; ý nghiệp nhiếp về định; giới định thành tựu, tuệ sanh. Đây là con đường tu tập Tam vô lậu học.

a. Thanh Văn Thừa: Hình thức tu Thập Thiện kết hợp với 37 phẩm trợ đạo (Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, bát thánh đạo phần, thất bồ đề phần). Dùng niệm xứ để thanh tịnh tâm, tiến đến "Niệm xứ quán" tức là nhiếp tâm và quán tâm. Như vậy, hành giả sẽ thanh lọc tâm tư, nâng mức độ tỉnh giác của mình lên. Khi tỉnh giác, hành giả dễ dàng pháp hiện để dẹp bỏ những bất thiện ý sanh khởi, và ngăn chặn khiến ý bất thiện không sanh, trãi nghiệm qua Tứ chánh cần. Từ đó tiến dần lên tứ như ý túc: Lúc này mức độ định tâm và chánh kiến đã ổn định. Ngang đây có thể khai triển "Dục như ý túc" để hướng đến con đường Phật Thừa, Bồ Tát Đạo, hay tiếp tục tu theo Thanh Văn Pháp. Nếu tiếp tục theo pháp Thanh Văn, nương trên mảnh đất định, phát triển tín căn, thúc đẩy niệm lực (giai đoạn tu ngũ căn, ngũ lực) để thành tựu Thiền định, hoặc sử dụng trạch pháp để đi theo thiền quán. Ở đây cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa định và quán (nghĩa là kết hợp tất cả các chi phần của 37 trợ đạo phẩm để bổ trợ nhau), vì "Định không tuệ thì thành khô định, tuệ không định thì thành cuồng tuệ". Rốt ráo sẽ thành tựu "ý thanh tịnh", tức giải thoát, Niết Bàn.

b. Bồ Tát thừa: Tu thập thiện kết hợp với Lục độ để cầu Vô thượng giác. Khi này, giới được triển khai tích cực như trong Bồ Tát Giới. Sự kết hợp tu tập có thể trình bày theo như văn kinh Thập Thiện:

1. Bố thí độ: Chẳng những không sát sanh mà còn khởi lòng thương chúng sanh như con đỏ, đem lòng từ hộ độ mạng khiến được an vui, đây là bố thí vô úy. Bồ tát chẳng những không trộm cắp mà còn đem vàng bạc, của báu bố thí cho khắp tất cả, cho đến bố thí vợ con, đầu mắt tai chân để cầu Phật đạo. Nhưng muốn bố thí viên mãn như vậy, phải lìa tham dục, tham ái. Điều này đã hoàn thành ở chi phần thứ 9 (không tham) khi hành giả tu Thập Thiện. Vì bỏ tà hạnh, lìa gian dối, không tham sân…mà bố thí nên khiến người tin tưởng, không phải uổng phí lời vẫn có thể thu phục nhân tâm…(phỏng trích theo văn Kinh Thập Thiện)

2. Lược nói năm độ sau: Trì giới trang nghiêm, thập thiện đã hoàn thành thân, khẩu thanh tịnh, nay tu tập Bồ tát hạnh, phần trì giới sẽ nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên, bên Bồ tát, không những giữ gìn không tổn hại chúng sanh mà còn phải cứu độ để cho chúng sanh không bị tổn hại về thân mạng, tài sản, tinh thần. Do đó, khi tu thập thiện, không làm điều ác tức là đã giữ giới, nhưng tiến lên Bồ Tát hạnh, giữ giới không những là không phạm điều ác, mà còn phải đem cả thân mạng ra làm điều thiện, xả thân để đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, khiến chúng sanh được độ tới chỗ an vui, như vậy mới xem là trì giới trong lục độ. Theo Bồ Tát hạnh, tinh tấn độ sẽ dẫn đầu, tinh tấn hành bố thí, tinh tấn giữ gìn giới, tinh tấn tu tập thiền định, tinh tấn trao dồi, mở mang trí huệ. Người muốn thực hiện được các điều khó ấy, phải có nhẫn lực, ý chí. Như vậy, tinh tấn và nhẫn nhục là hai pháp thiết yếu căn bản để hoàn thành bốn pháp còn lại. Muốn thành tựu nhẫn lực, ý niệm về cái tôi kiên cố phải từ bỏ, ngã ái phải từ bỏ, điều này phải thành tựu nơi giới thứ 10 (không si, tức không tà kiến) của Thập Thiện.

Kết lại: Lấy Thập Thiện làm thềm thang, làm giá đỡ để tiến lên Bồ Tát Hạnh, khi đó, nhờ phước báu sẵn tạo, công đức tu hành dễ dàng tiến triển hơn và nâng cao hơn. Chẳng hạn như không trộm cắp sẽ không bị tổn hại, khi không bị tổn hại thì lòng sân không khởi, khi đó đem lòng nhu hòa bố thí sanh phước báu lớn. Từ đó, chuyển sang đời sau Bồ Tát sanh vào nơi sang giàu, lại lấy lòng bố thí trợ giúp người làm niềm vui, khiến lòng từ sanh khởi và phát triển.v.v… Các chi phần khác cũng vậy. Do đó nói Lục độ cũng hoàn thành từ nơi Thập Thiện.

Tóm lại, Thập Thiện không phải chỉ riêng là pháp môn tu cầu phước báu cõi trời như bao nhiêu người thường tưởng, mà Thập Thiện là pháp tu của tất cả mọi hành giả từ việc cầu phước cõi người, trời cho đến tu Thanh Văn, Bồ Tát và cầu Vô Thượng Bồ Đề. Chúng sanh vì mang ý niệm có một cái "tôi" tồn tại nên trôi lăn sanh tử luân hồi, lại trong luân hồi thấy mình nhỏ bé đối với Tạo Hóa nên tìm cầu nương tựa nơi ở một đấng Tạo hóa tối cao nào đó v.v…Vì ngã tưởng sai lầm đó mãi chịu khổ đau. Khi hiểu được Thập Thiện Pháp, thấy rõ được sự khổ vui trong cõi hữu vi đều đi theo một luật tắc nhất định, đó là "nhân quả". Khi đó thừa hiểu phước tội do mình, làm thiện hưởng thiện, làm ác chịu quả ác. Đó là nói hành giả chưa thấu triệt lý vô ngã, chỉ tin nhân quả nên tìm hạnh phúc cho mình bằng cách gieo nhân lành. Đến khi thấu hiểu "Vạn pháp giai không" , tất cả đều giả huyễn: "Không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi", chừng đó khởi tâm cầu giải thoát, xa lìa tham, sân, si cầu thanh tịnh giải thoát. Khi đó tu tập ba nghiệp trọn thanh tịnh:

"Tam nghiệp hằng thanh tịnh

Đồng Phật vãng Tây Phương"

Tuy nhiên, muốn thân khẩu thanh tịnh, tuy có khó nhưng vẫn dễ hơn nhiều so với thành tựu ý thanh tịnh. Song nếu đã đạt được ý thanh tịnh rồi, hành giả có nói nín động tịnh gì cũng là "Vô tác nghiệp", nghĩa là: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành"./.

339343 top -
Gốc rễ của an lạc


Image

"Nếu một người tu tập tịnh độ, tâm của họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì cảnh giới tịnh độ của họ là cảnh giới của đất cát khô cằn hay là những nghĩa địa u buồn mất trắng cả linh hồn."

Ta muốn có hạnh phúc và an lạc, ta phải biết thực tập và nuôi dưỡng đời sống của Từ, Bi, Hỷ, Xả.
Trong đời sống của ta có Từ, Bi, Hỷ, Xả là ta có nội dung của hạnh phúc và an lạc.

Từ là không sợ hãi khổ đau mà phải biết ôm ấp nỗi đau của ta và của người để chăm sóc, khiến cho chúng không có loang lỗ ra trong tâm thức ta và trong đời sống của ta.

Ta phải chăm sóc nỗi đau của ta và của người, bằng tất cả trái tim hiểu biết và thương yêu của ta một cách chân tình. Ta chăm sóc những nỗi đau như vậy mỗi ngày qua bước đi, hơi thở, nụ cười và cách nhìn mọi sự hiện hữu, hay cách nghe mọi âm thanh trần thế, chắc chắn những nỗi đau của ta hay những nỗi đau của người sẽ trở nên lành lặn.


Bi là không tránh né khổ đau mà chạm trán với khổ đau bằng con mắt trầm tĩnh, bằng một trái tim nhiệt tình, bằng cái nhìn thấy sâu lắng và chính xác đối với những tập khởi khổ đau và với đôi bàn tay nhẹ nhàng mà cương quyết trong hành động để đào xới và bứng tận gốc rễ của chúng.

Nên, Bi là chất liệu giúp ta và mọi người vượt thoát mọi gốc rễ của khổ đau. Bởi vậy, Bi là chất liệu đánh bạt mọi nguyên nhân gây khổ, thiết lập và tái tạo tâm thức bình an cho ta và cho tất cả mọi người.
Trong tâm hồn ta, thiếu chất liệu của Bi, thì mọi hạnh phúc đến với ta chỉ là những hạnh phúc hư ảo, chỉ là những hạnh phúc có đó mà không đó.


Hỷ là không đàn áp những người có khả năng yếu kém so với ta và không kỳ thị hay khiếp đảm đối với những người có khả năng vượt trội hơn ta.

Hỷ là chất liệu loại trừ những hạt giống mặc cảm tự ty và tự tôn nơi ta, khiến cho ta có khả năng tùy thuận đối với những gì tốt đẹp và hạnh phúc xảy ra từ người khác.
Ganh tỵ là một trong những chất liệu làm vẩn đục tâm ta, khiến cho đời sống của ta trở nên chật hẹp và khó khăn, nên Hỷ là chất liệu xóa sạch những vết bẩn của ganh tỵ đang hiện hành nơi tâm ta, khiến tâm ta hoạt động trong sự tương vui, rộng lớn và trong sáng.

Nên, Hỷ là chất liệu giúp ta vượt thoát gốc rễ của khổ đau, và khiến ta có khả năng động viên, phát huy những điều tốt đẹp từ người khác.
Trong tâm hồn ta thiếu chất liệu của Hỷ, ta không thể có chất liệu đồng cảm chân thực đối với người, ta không có khả năng thân cận với một người tốt để học hỏi và ta không có khả năng làm thay đổi những người kém may mắn hơn ta.

Nên, trong tâm ta thiếu chất liệu của Hỷ, ta là người sống trong cô độc và chết trong cô đơn, ta đẩy hạnh phúc đi về phía chân trời xa lạ.


Xả là tích cực hành động theo Từ, theo Bi, theo Hỷ mà không có thủ lợi. Chất liệu của Xả giúp ta vượt thoát mọi hoạt động có cơ tâm, của thất vọng, hận thù và oán trách, đem lại sự an toàn cho tâm hồn ta và cho những người mà ta thương yêu.

Trong tâm hồn ta, thiếu chất liệu của Xả, chúng sẽ tạo ra trăm mối ngổn ngang cho đời sống của ta, nên ta bị quá khứ lôi kéo, khiến ta hoàn toàn không có tự do với quá khứ; ta bị tương lai cuốn hút, khiến ta không có tự do với tương lai và ta bị hiện tại cột chặt, khiến ta bị mất chủ quyền đối với hiện tại, và nếu trong tâm hồn của ta thiếu chất liệu của Xả, thì ta ở nơi đây là ta bị cột chặt ở đây; ta ở nơi kia là ta bị cột chặt ở nơi kia và ta tiếp xúc với bất cứ cái gì, thì ta sẽ bị cái đó trói buộc ta, khiến ta không có tự do đối với mọi thời gian, đối với mọi không gian và đối với mọi sự hiện hữu.

Nên, Xả là chất liệu giúp ta có giải thoát và tự do ngay trong mọi hành động của ta.
Tâm Xả của ta càng lớn, thì sự tự do của ta càng nhiều, và tâm Xả của ta vô lượng, thì hạnh phúc của ta là vô cùng và tình yêu của ta trở thành vô tận.

Bởi vậy, trong đời sống của ta mà thiếu chất liệu của Xả, thì ta làm bất cứ cái gì, ta sẽ bị cái đó trói buộc, ta sẽ bị khổ đau và thất vọng bởi cái đó.
Thiếu chất liệu của Xả, không những khiến cho đời sống của ta bị chết ngột bởi tài sản, bởi nhận thức mà còn khiến cho ta bị chết ngột bởi tình cảm.


Nếu một người tu tập tịnh độ, tâm của họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì cảnh giới tịnh độ của họ là cảnh giới của đất cát khô cằn hay là những nghĩa địa u buồn mất trắng cả linh hồn.

Nếu một người tu tập thiền, mà tâm của họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì cảnh giới của họ chỉ là những núi đá đứng trống trơ sừng sững và chai lỳ, hoàn toàn mất hết mọi cảm giác và tuệ giác.

Và, nếu một người chuyên gia bố thí, mà tâm họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì chỉ làm chồng chất thêm những bất công cho xã hội và khổ đau của con người.

Nên, Từ - Bi - Hỷ- Xả là chất liệu cần phải có trong mọi hành động của ta, trong mọi lời nói của ta và trong mọi ý nghĩ của ta, khiến cho hạnh phúc của ta từ đó mà sinh khởi và lớn lên.

Hạnh phúc của ta sinh khởi và lớn lên từ nơi tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả của ta mới là hạnh phúc chân thực.

Hạnh phúc và an lạc chân thật của ta phải sinh khởi từ nơi đó, mà không phải sinh khởi từ bất cứ nơi nào.

Sáu quan năng của ta là những điều kiện biểu hiện của một tâm hồn có hạnh phúc hay của một tâm hồn đau khổ mà không phải là nguyên nhân của hạnh phúc hay khổ đau.

Nguyên nhân của hạnh phúc và an lạc là chất liệu Từ, Bi, Hỷ và Xả ở nơi tâm của mỗi chúng ta và nguyên nhân của khổ đau thì ngược lại.


(Thích Tâm Bình)

339808 top -
xin cám ơn anh chị vdt giúp thành viên có thể niệm phât,ngày này là ngày 29 lấy 30 vì tháng thiếu,con xin phật mở lòng phù hộ độ trì cho con,con nguyện cầu may mắn,tháng 8 âm lịch này con phỏng vấn xin phật,đức mẹ quan thế âm đi bên con nguyện cầu cho con.man mô a di đà phật

370224 top -
Hiệp tâm cầu nguyện mười phương chư Phật phù hộ độ trì cho lovely11 được gặp nhiều may mắn và thuận lợi trong ngày phỏng vấn.

Nam Mô A Di Đà Phật

370255 top -
Nguyện cầu mong chư Phật sẽ phù hộ cho lovely11 gặp nhiều thuận lợi trong ngày phỏng vấn và sớm được xuất cảnh để cùng đoàn tụ với gia đình NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

370574 top -
dạ em cám ơn chị phương 60,tantranleha rất nhiều,hôm nay em đi chùa Quan Thế Âm cầu nguyện khóc suối xã,
Man Mô a Di Đà Phật
xin Quan Thế Âm Bồ Tác phù hộ độ trì cho con gặp nhiều may mắn,ring được giấy hồng về,mọi điều tốt đẹp
Man Mô A Di Đà Phật

370613 top -
Thiền sư Thích Nhất Hạnh được tạc tượng tại Oakland
Friday, September 09, 2011 7:36:29 PM
Bookmark and Share


OAKLAND, California - Thành phố Oakland vừa khánh thành Tượng Ðài Nhân Ðạo hôm Thứ Ba, với những bức tượng đồng của 25 nhân vật nổi tiếng thế giới, trong đó có Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, theo một bản tin của đài truyền hình địa phương KTVU.

Tượng Ðài Nhân Ðạo vừa được khánh thành tại Oakland. (Hình: oaklandnorth.net)

Tượng đài, với chi phí $8 triệu, được dựng phía Tây của Henry J. Kaiser Memorial Park, ngay trung tâm thành phố Oakland.

Ba trong số bốn khu vực tượng đài rộng 1,000 square feet được đặt tên “Remember Them: Champions for Humanity,” có tượng của 25 nhân vật nổi tiếng đấu tranh cho nhân quyền trên thế giới, từ Martin Luther King, Jr. tới Franklin Delano Roosevelt tới Maya Angelou, Cesar Chavez và Mahatma Gandhi.

Người Việt Nam duy nhất có tượng trong tượng đài này là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh.

Ngoài ra, có sáu nhà hoạt động địa phương cũng được tạc tượng phía sau tượng đài, trong đó có ông Henry J. Kaiser, cư dân Oakland, sáng lập viên công ty bảo hiểm Kaiser Permanente.

Chi phí hoàn thành bức tượng này có được qua sự đóng góp của Phòng Thương Mại Oakland cùng với các công ty Kaiser Permanente, AT&T và Clorox, và một số cá nhân địa phương.

Thành phố Oakland cũng đóng góp vào tượng đài $100,000, theo ông John Ellis, phát ngôn viên thành phố.

Tượng đài cao 21 feet, rộng 52 feet, nặng 50,000 pound này do nghệ sĩ Mario Chiodo thực hiện. (Ð.D.)

373718 top -

383202 top -
Gia đình Phật tử VDT
1 ... 10, 11, 12, 13, 14


PayPal về email:
thuquy@vietditru.com


Chi phiếu gửi về:
Nguyen Nguyen
4540 Alum Rock Ave
San Jose, CA 95127



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM


Ý kiến về Quỹ VietDitru

ImageRomantic Piano Radio

hello


none