Tìm hiểu về bệnh u limpho
Khối u xuất hiện ở nách, cổ... có phải là ung thư?
BS.CKII. Phạm Xuân Dũng, phó giám đốc Bệnh viện ung bướu TP.HCM, sẽ giúp bạn đọc tìm hiểu về căn bệnh này.
U lymphô không Hodgkin nguyên phát là loại bệnh lý ung thư của hệ tạo huyết.
Tên gọi còn xa lạ với nhiều người, song bệnh này lại khá phổ biến. Tại Mỹ, năm 2006 có 58.870 trường hợp mới và 18.840 ca tử vong. Tại TP.HCM năm 2003, tỷ lệ bệnh ở nam giới là 4,6/100.000 dân và ở nữ giới là 3,2/100.000 dân. Bệnh viện ung bướu TP.HCM mỗi năm tiếp nhận khoảng 500 trường hợp bệnh mới.
- Bệnh u lym-phô ác tính (lymphoma) hay ung thư hệ lym-phô là một rối loạn tăng sinh ác tính của tế bào lym-phô (một loại tế bào bạch cầu).
- Có 2 loại u lym-phô: Bệnh Hốt- kin (Hodgkin) thường gặp ở người trẻ và U lym-phô không Hodgkin thường gặp ở người lớn tuổi.
Ung thư hạch loại không Hodgkin nhiều gấp 5 lần loại Hodgkin.
Hệ thống hạch bạch huyết là gì?
Các hạch bạch huyết là các tuyến nhỏ nằm khắp nơi trong cơ thể. Mỗi hạch có thể lớn cỡ đầu đinh ghim cho đến to cỡ hạt đậu, thường xếp thành nhóm hay chuỗi hạch. Các nhóm hạch chính nằm ở cổ, nách, trong lồng ngực, trong bụng, vùng chậu và hai bên bẹn.
Hệ thống bạch huyết là một phần trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Hệ thống miễn dịch này có nhiệm vụ chống lại các bệnh lý nhiễm trùng cũng như các loại bệnh lý khác.
Trong hệ bạch huyết có 2 thành phần chính:
- Mạng lưới các mạch bạch huyết.
- Các hạch bạch huyết: có kích thước từ vài milimet đến hơn 1 cm, thường xếp thành nhóm. Hạch bạch huyết là nơi bắt giữ và loại bỏ vi trùng cùng những chất có hại cho cơ thể.
Thành phần của hệ bạch huyết gồm có hạch amydan, lách, tuyến ức và mô bạch huyết ở những cơ quan khác của cơ thể như bao tử, da và ruột non.
Tế bào lymphô nằm bên trong hạch bạch huyết, nếu bị rối loạn sẽ trở thành ung thư, gọi là ung thư nguyên phát tại hạch. Phân biệt với hạch do ung thư di căn.
Các tế bào lymphô ác tính không chỉ có ở hạch bạch huyết mà còn có ở những nơi khác.
Bác sĩ có thể giải thích rõ hơn về u lymphô không Hodgkin?
Được hình thành từ những rối loạn của dòng tế bào lymphô, bệnh thường hay xuất phát đầu tiên tại hạch. Ung thư hạch được xếp thành 2 nhóm lớn: nhóm có diễn tiến chậm, thời gian sống hơn 10 năm và nhóm có diễn tiến nhanh nên thời gian sống còn ngắn hơn.
Những nguyên nhân nào gây ra bệnh?
Nguyên nhân gây ra bệnh U lymphô cho đến nay vẫn chưa xác định rõ. Tuy nhiên qua nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy có một số yếu tố nguy cơ được cho là liên quan đến bệnh U lymphô là:
- Yếu tố về miễn dịch: suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải (HIV/AIDS), thiếu sự điều hòa miễn dịch, bệnh tự miễn, bệnh nhân ghép tạng…
- Yếu tố nhiễm khuẩn: nhiễm vi rút Epstein Barr, HTLV, HCV, vi khuẩn Helicobacter pylori trong U lymphô dạ dày.
- Yếu tố hóa học: thuốc trừ sâu, diệt cỏ, khai hoang...
- Môi trường: làm việc trong các ngành công nghiệp gỗ, giấy, cao su, thuốc nhuộm…
- Yếu tố khác: như béo phì, tuổi trên 60
Về triệu chứng: nổi hạch, sụt cân, sốt kéo dài, ho, khó thở hay đau ngực, mệt mỏi, suy kiệt kéo dài, bụng đau, phình ra hoặc có cảm giác đầy.
Khi các triệu chứng kéo dài quá 2 tuần thì phải đi khám để tìm nguyên nhân.
Triệu chứng của bệnh U lymphô là gì?
Do các tế bào lymphô tập trung nhiều tại các hạch bạch huyết nên triệu chứng tại hạch thường gặp và rõ ràng nhất.
Tại hạch: Hạch càng ngày càng to ra, lúc đầu chỉ có thể một hạch sau lan ra một hay nhiều nhóm hạch, cuối cùng là hạch toàn thân.
Hạch lúc đầu không đau hoặc chỉ đau nhẹ, càng về sau người bệnh có thể đau nhức nhiều do tế bào ung thư xâm lấn các tổ chức xung quanh. Hạch to thường dễ phát hiện nếu là hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn.
Ngoài hạch :
Nếu U lymphô xuất hiện ngoài hạch như ở dạ dày thì sẽ có triệu chứng như viêm lóet dạ dày, xuất huyết tiêu hóa (đi cầu phân đen), ở vùng bụng thì có triệu chứng đau vùng bụng, đau lưng.
Bệnh thường kèm theo các triệu chứng toàn thân như: sốt kéo dài nhưng không có dấu hiệu nhiễm trùng, đổ mồ hôi ban đêm, sụt cân hơn 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng.
Bệnh được chẩn đoán bằng cách nào?
Bệnh nhân khi có triệu chứng nghi ngờ sẽ được khám bệnh nhằm phát hiện hạch to, các đặc điểm của hạch cũng như tìm ra các ổ nhiễm trùng lân cận có thể là nguyên nhân gây ra hạch to.
Ngoài ra, tùy theo tình trạng của từng người mà bệnh nhân có thể được yêu cầu làm thêm các xét nghiệm như:
- Sinh thiết hạch
- Xét nghiệm hình ảnh học:
+ Chụp X-quang phổi
+ Cắt lớp điện toán (CT – scanner): cơ, ngực, bụng và cơ quan nào dễ ảnh huởng đến hạch bạch huyết
+ Cộng hưởng từ (MRI): xương, não, cột sống để đánh giá ung thư phát triển đến đâu
+ PET scan.
- Công thức máu, xét nghiệm gan, thận
- Xét nghiệm dịch não tủy (một loại dịch nằm trong não bộ và tủy sống)
- Khảo sát tủy
- Thử miễn dịch kháng nguyên có trên bề mặt tế bào ung thư (CD : Cluster Differential).
Đánh giá giai đoạn bệnh:
Bệnh được chia làm 4 giai đoạn. Mỗi giai đoạn, bệnh sẽ có tiên lượng và được điều trị bằng những phương pháp khác nhau.
Giai đọan I: chỉ có ở 1 hạch (đây là giai đoạn sớm)
Giai đoạn II:[/b] từ 2 hạch trở lên nhưng ở một bên cơ hoành
[i]Giai đoạn III: từ 2 hạch trở lên nhưng ở hai bên cơ hoành
Giai đoạn IV: có lách to, đã xâm lấn một số cơ quan như tủy, xương, não…
Bệnh có điều trị được không, thưa bác sĩ?
Bệnh u lymphô là bệnh lý ác tính có thể điều trị khỏi với tỷ lệ khá cao, cả trong giai đoạn trễ. Ngay khi ung thư đã di căn thì vẫn còn đến 40% khả năng đáp ứng điều trị lâu dài.
Hiệu quả điều trị càng cao nếu bệnh được phát hiện sớm, chẩn đoán và phân loại bệnh chính xác, và áp dụng phương pháp điều trị thích hợp.
- Bệnh Hodgkin: tỷ lệ bệnh sống 5 năm là 65-90%.
- Bệnh u Lymphô không Hodgkin: tỷ lệ bệnh sống 5 năm là 25-90%.
Ký hiệu A có nghĩa là không có triệu chứng, còn B là có triệu chứng (sốt, đổ mồ hôi đêm, sụt cân).
Các phương pháp điều trị hiện nay là gì?
Lymphô không Hodgkin gồm tới 35 thể bệnh khác nhau, phương pháp điều trị cũng khác nhau.
Một số trường hợp chỉ bắt đầu điều trị khi có triệu trứng. Phác đồ điều trị tùy thuộc vào diễn tiến và giai đoạn bệnh.
- Xạ trị: có vai trò trong một số ca bệnh ở giai đoạn 1.
- Hóa trị: là liệu pháp chủ yếu (truyền hóa chất qua đường tĩnh mạch hay uống hóa chất viên).
- Phương pháp nhắm trúng đích là liệu pháp tiên tiến với các sản phẩm thuốc mới hữu hiệu mà ít gây tác dụng phụ, như rituximab (Mab-Thera). Tuy nhiên giá thuốc rất cao (khoảng 30 triệu đồng/lần điều trị).
- Ghép tế bào gốc (ghép tủy): được dùng trong các trường hợp có tiên lượng rất xấu, hoặc tái phát, hoặc không đáp ứng với điều trị.