.
Gia đình Phật tử VDT
1 ... 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 ... 14 - bottom
Lưu ý: Tất cả vấn đề về tôn giáo đều nhậy cảm, không khéo xử sự dễ sinh ra chuyện đáng tiếc. VietDitru thiết kế mục riêng để thành viên dễ dàng sinh hoạt. Thành viên phải để ý tế nhị trong cách hành xử.

Thân tâm an lạc


Image

Nghệ thuật sống hạnh phúc
Người ta bảo ở bên Palestine có hai biển hồ.
- Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Ðúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Cá không thể sống nổi với nước trong hồ và khi con người uống phải thứ nước trong hồ này thì cũng bị bệnh cho nên không ai muốn sống gần đó cả.
- Biển hồ thứ hai tên là Galilee. Ðây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở gần nơi này và vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nước của hồ này.
Thế nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển Chết thì nó đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chia sẻ cho nên nước trong biển hồ Chết dơ bẩn và trở nên mặn chát. Biển hồ Galilee cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan nhưng chảy tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn trong sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muôn thú và con người.
Qua câu chuyện của hai biển hồ nói trên, người ta nhận ra được một định lý trong cuộc sống mà hầu như ai cũng đồng ý, đó là:

- Một ánh lửa được chia sẻ sẽ là một ánh lửa lan tỏa.
- Ðôi môi có hé mở nụ cười thì mới nhận được nụ cười đáp lại.
- Bàn tay có mở rộng trao gởi và ban phát thì tâm hồn mới tràn ngập vui sướng được.
Thật bất hạnh cho một người nào đó cả cuộc đời chỉ biết giữ mọi thứ riêng cho mình, sống ích kỷ và không có tâm hồn vị tha. “Sự sống” trong họ rồi cũng sẽ chết dần, chết mòn như nước trong biển hồ Chết mà thôi.


Mười điều nên làm
1. Ðừng quên hy vọng vì sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại, ngay cả khi bạn bị bỏ rơi hay đau khổ.
2. Ðừng đánh mất niềm tin vào chính mình. Chỉ cần tin là mình có thể làm được thì bạn lại càng có lý do để cố gắng thực hiện thành công điều đó.
3. Ðừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại. Chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ “giàu có” trong cuộc sống của mình.
4. Ðừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua được.
5. Ðừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ, ở vào bất kỳ một khoảng thời gian nào đó trong cuộc đời.
6. Ðừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu vì đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.
7. Ðừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.
8. Ðừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn sụp đổ, vì cho dù trải qua kinh nghiệm về thất bại nhưng đây chính là dịp học hỏi kinh nghiệm để tiến bộ hơn lần sau.
9. Ðừng quên mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do đó cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.
10. Ðừng quên tìm cho mình một người bạn thật sự, bởi vì tình bạn chính là điều rất cần thiết trong suốt cuộc đời.
Cuối cùng, xin đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần đến hay có được, bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng để noi theo khi biết nhớ ơn tiền nhân.



Mười bốn điều Phật dạy
Có 14 điều mà Phật Thích Ca dạy và đã được các vị học giả quốc tế sưu tầm từ chùa Thiếu Lâm, Hà Nam, Trung Quốc đem về giảng dạy tại nhiều đại học danh tiếng khắp thế giới. Ðó là:
1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.
2.Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.
3. Ngu dốt nhất của đời người là dối trá.
4. Bi ải nhất của đời người là ghen tị.
5. Sai lầm nhất của đời người là tự đánh mất mình (vong thân).
6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là lừa mình, dối người.
7. Ðáng thương nhất của đời người là sự tự ti.
8. Ðáng khâm phục nhất của đời người ý chí vươn lên.
9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.
10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khỏe.
11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình yêu.
12. Lễ vật lớn nhất của đời người là sự khoan dung.
13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là sự kém hiểu biết.
14. An ủi lớn nhất của đời người là sự bố thí.



Tu tâm
Người xưa thường dạy dỗ con cháu nên săn sóc, nuôi dưỡng tấm lòng của mình (tu tâm) hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây. Có nhiều cách thực tập tu tâm ngay tại nhà riêng, ngay khi xếp hàng ở bưu điện hay chờ trả tiền ở chợ hay ngân hàng, nghĩa là bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Khi thực hành tu tâm như thế, chúng ta luôn nhớ làm những điều sau đây:
1. Thở chậm và điều hòa. Nếu có thể mỉm cười, dù bằng mắt hay chỉ nghĩ đến niềm vui trong lòng tức là để tâm hài hòa với mọi sự và mọi vật chung quanh.
2. Buông nhẹ hai vai xuống, thả lỏng thân thể cho mọi phiền muộn, những điều không may mắn chạy xuống chân, ra khỏi thân thể và tan biến vào lòng đất...
3. Ðể một cái lọ thủy tinh ở chỗ dễ nhìn thấy nhất. Mỗi lần đi ra hay đi vào nhìn thấy lọ thủy tinh thì nhớ nhắc mình bỏ những đồng tiền xu, tiền cắc vào đó và tâm niệm “tôi đóng góp số tiền này để có thể giúp đỡ những trẻ mồ côi, người già yếu hay những ai kém may mắn, vất vả, thiếu thốn trên đường đời...”



(oldcottage.net)

154559 top -
Phượng đã bình tâm khi vào ngôi nhà Gia đình Phật tử VDT.

Mến chúc bạn Thân tâm luôn an lạc.

154562 top -
Thức ăn nuôi dưỡng thân tâm


Image

Trong nhiều kinh điển, Đức Phật có nói về bốn loại thức ăn: đoàn thực, xúc thực, thức thực và tư niệm thực. Bốn loại thức ăn này cung cấp dưỡng chất nuôi sống và làm phát triển thân tâm của con người.

Thông thường khi nói về thức ăn, chúng ta chỉ nghĩ đến các loại thực phẩm có nguồn gốc từ động vật hay thực vật. Người Ấn Độ xưa thường vò thức ăn lại thành viên tròn trước khi đưa vào miệng ăn nên gọi chung cách ăn uống thông thường là đoàn thực.

Trên thực tế, chỉ có đoàn thực thôi thì chưa đủ để nuôi dưỡng thể xác và tâm hồn con người, giúp con người sống với những hoạt động phong phú của thể chất và tinh thần. Sáu căn của con người (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) luôn tiếp xúc với sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp (màu sắc, hình dáng, âm thanh, mùi vị, cảm giác khi xúc chạm, các đối tượng suy tư của tâm ý), sự tiếp xúc ấy được gọi là xúc thực.

Căn và trần tiếp xúc với nhau sinh ra nhận thức, phân biệt, hiểu biết gọi là thức. Nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức; những nhận thức ấy được gọi là thức thực.

Những hồi ức, suy tư, nghĩ tưởng, mơ ước và mong muốn của con người được gọi là tư niệm thực.

Trong bốn loại thức ăn trên, con người thường chỉ quan tâm đến đoàn thực. Ăn uống là một trong năm thứ tham muốn cơ bản của con người: tiền của (tài), sắc đẹp (sắc), sự nổi tiếng (danh), ăn uống (thực), ngủ nghỉ (thùy). Con người luôn tìm kiếm những món ngon vật lạ để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, sở thích ăn uống. Người ta sẵn sàng bỏ công sức, thời gian, không ngại đường sá xa xôi để lặn lội tìm đến nơi có món ăn yêu thích. Mỗi ngày có biết bao chúng sinh bị sát hại để cung cấp thực phẩm cho con người. Có nhiều người thèm khát đủ thứ nhưng không phải vì đói mà vì họ thích ăn, thói quen hưởng thụ đã trở thành tập khí khó bỏ. Càng tham đắm ăn uống thì càng tạo nghiệp, càng khổ thân, phải làm lụng vất vả để kiếm tiền, và nếu không được thỏa mãn sở thích thì buồn phiền, khổ não vô cùng.

Vẫn biết ăn uống là một nhu cầu của sự sống, nhưng ăn uống như thế nào để nuôi dưỡng và phát triển thể chất, làm thăng hoa tinh thần của con người đồng thời không tạo ra nghiệp sát mới là vấn đề cần phải lưu tâm.

Con người không chỉ cần hấp thu dưỡng chất để nuôi dưỡng thân thể mà còn rất cần hấp thu "dưỡng chất" để nuôi dưỡng tinh thần. Khi chúng ta tiếp xúc với thế giới bên ngoài làm phát sinh nhận thức, sau đó là quá trình suy tư, chọn lựa và quyết định… làm nên những yếu tố nuôi dưỡng đời sống tinh thần. Do đó phải biết dung nạp những loại thức ăn có lợi cho tâm hồn như bồi dưỡng nhân cách, tình cảm, trí tuệ để nâng cao đời sống tinh thần.

Hàng ngày chúng ta hấp thu vào cơ thể những loại thức ăn nào? Để nuôi dưỡng cơ thể, chúng ta thường ăn các loại thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật. Tuy nhiên, muốn tốt cho cơ thể, chúng ta phải ăn uống phù hợp với chế độ dinh dưỡng, các loại thức ăn phải đảm bảo an toàn vệ sinh, thức ăn không chứa độc tố, không mang mầm bệnh. Việc chọn lựa thực phẩm một cách khoa học để thiết lập quân bình cho cơ thể, tăng cường sức khỏe, duy trì sự sống là điều quan trọng. Bởi vì có thân thể khỏe mạnh chúng ta mới có thể làm việc, phụng sự. Thân thể của chúng ta cũng chính là phương tiện để rèn luyện, tu tập làm thăng hoa đời sống tâm linh.

Về phương diện tinh thần, chúng ta nuôi dưỡng tâm hồn của mình bằng những loại thức ăn nào? Con người hay quan tâm đến các loại thức ăn nuôi dưỡng thể xác mà ít khi quan tâm đến các loại thức ăn nuôi dưỡng tâm hồn. Cũng như thân thể, nếu không được nuôi dưỡng, chăm sóc đúng cách thì tâm hồn sẽ ốm yếu và bệnh hoạn, đời sống tinh thần sẽ nghèo nàn, con người trở nên khô khan, nhận thức sai lầm, tư duy lệch lạc, trí tuệ không phát triển…Và nếu không có sự chọn lựa các loại thức ăn lành mạnh trong quá trình tiếp xúc, nhận thức và suy niệm thì tâm thức chúng ta cũng bị nhiễm độc tham sân si cùng vô số phiền não khác.

Tiếp xúc nhiều với thế giới, với con người, với tự nhiên đồng thời chịu khó nghiên cứu học hỏi, chúng ta sẽ nhận thức được nhiều điều, tăng thêm hiểu biết cùng vốn sống. Nếu chúng ta biết tiếp xúc với những nhân tố có lợi, hấp thụ những điều bổ ích cùng với sự tư duy chơn chánh thì tâm thức chúng ta trong sạch, thanh cao. Như khi tiếp xúc với âm nhạc qua những âm điệu trầm bổng du dương là chúng ta đang nuôi dưỡng tâm hồn bằng những rung động, cảm thụ tinh tế về tình yêu, về cuộc sống và con người…

Ngày nay con người có rất nhiều điều kiện cho xúc thực, thức thực và tư niệm thực. Cũng chính vì thế mà việc chọn lựa để hấp thu những gì có lợi cho đời sống tinh thần, nuôi lớn tâm hồn con người là điều cần phải đặc biệt quan tâm. Nhiều thông tin mới đây cho biết, tình trạng nghiện game online đã dẫn đến những căn bệnh tâm thần, rối loạn hành vi và nhận thức. Không chỉ ở nước ta, nhiều nước trên thế giới đang báo động về mối nguy hại của việc nghiện game online. Tiếp xúc quá nhiều với những trò chơi mang tính bạo lực sẽ hấp thu những cảm xúc bất thiện, khiến cho nhận thức và tư duy lệch lạc, có xu hướng bạo lực. Những người này thường dễ bị kích động, thích bạo lực, tâm đầy sân hận. Đối với người tiếp xúc quá nhiều với game "đen" và web "đen", do hấp thu những yếu tố không lành mạnh, nuôi lớn khát vọng nhục dục nên đã có trường hợp bị rối loạn tâm thần, luôn bị nhục dục ám ảnh trong các phương diện cảm xúc (xúc thực), nhận thức (thức thực) và nghĩ tưởng (tư niệm thực), từ đó họ gây ra những hành vi bại hoại.

Trong các cửa hàng quà lưu niệm có bộ tượng ba con khỉ rất ngộ nghĩnh, một con dùng tay bịt mắt, một con bịt tai, còn một con bịt miệng của mình. Ý nghĩa của bộ tượng này là gì? Tượng con khỉ bịt miệng khuyên chúng ta phải biết thận trọng trong lời nói, không nên nói bậy, nói bừa bãi, nói lời không chân thật, giả dối, nói lời xấu ác. Tượng con khỉ bịt tai khuyên chúng ta đừng nghe bậy, những điều không hay, không tốt. Tượng con khỉ bịt mắt khuyên chúng ta đừng nhìn những gì không nên nhìn, những gì có hại, có tác động không tốt cho nhận thức, tâm tư, tình cảm của mình. Ý nghĩa giáo dục của ba bức tượng này rất hay, bởi vì nếu không tiếp xúc với những điều xấu (không thấy, không nghe), không suy nghĩ, không nói, không làm những điều xấu thì tâm ý trong sạch, đời sống tinh thần thăng hoa và an lạc.

Đức Phật nói về bốn loại thức ăn dùng để nuôi dưỡng thân tâm với mục đích giúp con người nhận thức về tầm quan trọng của nó để chọn lựa những loại thức ăn có lợi cho cơ thể và tâm hồn. Về nuôi dưỡng cơ thể, Đức Phật dạy chúng ta xem ăn như là dùng thuốc chữa bệnh đói, để duy trì sự sống chứ không phải sống để ăn uống hưởng thụ, đừng vì tham đắm ăn uống mà tạo nghiệp ác, đừng vì tham đắm ăn uống mà bất chấp nguy hại. Về thức ăn nuôi dưỡng tâm hồn, Đức Phật dạy thực hành các pháp như Bát chánh đạo, từ bi hỷ xả, tinh tấn, trí tuệ v.v… Đó chính là những loại thức ăn cần có để nuôi dưỡng tâm thức, làm thăng hoa đời sống con người.


PHAN MINH ĐỨC
(Giác Ngộ Online)

154572 top -
Buông bỏ: Như cánh chim trong cơn gió lớn


Trong buổi lễ quy y tam bảo, những người chính thức trở thành Phật tử đều có nhận được một pháp danh mới. Mỗi pháp danh thường có ý nói đến hạnh nguyện tu tập của người ấy.

Tôi có một ghi nhận này, là mỗi khi một phật tử (người Tây phương) nhận được pháp danh nào có nghĩa như là “Buông dứt” hay “Từ bỏ” (Renunciation) là họ tỏ vẻ không thích.

Nhưng tôi nghĩ thật ra thì tùy chúng ta hiểu chữ ấy như thế nào mà thôi. Tôi thì được học rằng buông bỏ ở đây có nghĩa là buông bỏ sự nắm bắt của mình. Cái mà ta muốn từ bỏ ở đây là một thái độ đóng kín và tránh né cuộc sống. Bạn có thể nói rằng, sự từ bỏ cũng đồng nghĩa với sự cởi mở ra và tiếp xúc với giây phút hiện tại.

Và có lẽ cũng đúng khi ta nghĩ rằng, nền tảng của sự từ bỏ ấy chính là một cái ta chân thật của mình, nó là cái bản tính tốt lành và vui tươi của ta.

Theo truyền thống của đạo Phật, và cũng như trong nhiều truyền thống tâm linh khác, thì bản chất của mỗi chúng ta là vui khoẻ và tốt lành. Mỗi người chúng ta sinh ra đều có đầy đủ khả năng thương yêu và với một tuệ giác. Sự từ bỏ ấy nói rằng, chúng ta đã có sẵn hết những gì mình cần, và những gì mình đang có rất là tốt lành. Chỉ cần chúng ta biết tiếp xúc lại với cái giây phút hiện tại này mà thôi.

Mới đây tôi ngồi trong một văn phòng bác sĩ, trên tường có treo một tấm tranh hình một người phụ nữ da đỏ nắm tay một bé gái nhỏ, cả hai cùng đi trên đường. Bên dưới là dòng chữ, “Bốn mùa đến rồi đi, xuân qua rồi hè đến, hè hết rồi thu sang, thu đi thì đông tới. Con người sinh ra và lớn lên, truởng thành, rồi già và chết. Tất cả đều có những vòng xoay của nó. Ngày sang đêm, đêm tiếp nối ngày. Đẹp thay khi ta cũng là một phần của tất cả những cái ấy.”

Sự từ bỏ có nghĩa là ta ý thức được rằng, cái ý muốn được sống trong một thế giới được chở che, nhỏ nhoi, và giới hạn của ta là không thật. Một khi ta cảm nhận được sự rộng lớn của cuộc sống này, và thấy được khả năng kinh nghiệm sự sống của mình là bao la đến đâu, thì chắc chắn ta sẽ hiểu được sự buông bỏ.

Trong lúc ngồi thiền, ta trở về với hơi thở của mình. Trong mỗi hơi thở ra, ta sẽ có một cảm nhận cởi mở và tiếp xúc với giây phút hiện tại. Rồi khi tâm ta bị lôi kéo theo những mơ tưởng xa xôi nào đó, ta thầm nói “đó chỉ là suy nghĩ.” Chúng ta nói thầm một cách rất từ tốn và chính xác.

Mỗi lần ta có thể từ bỏ được sự suy nghĩ ấy, mỗi lần ta buông bỏ ở cuối mỗi hơi thở ra, thì đó cũng chính là một sự từ bỏ cơ bản: buông thả cái thái độ nắm giữ và ôm chặt của mình.

Như một dòng sông đang chảy mạnh xuống núi, và đột nhiên nó gặp phải những tảng đá lớn và nhiều cây cao. Dòng nước không thể nào chảy tiếp được nữa, mặc dù nó đang chảy rất mạnh và có nhiều năng lượng. Dòng nước bị dừng đứng hẳn lại. Và trong cuộc đời, đôi khi chúng ta cũng bị ngăn chận giống như thế.

Khi ta tập buông thả ở mỗi cuối một hơi thở ra, tập buông bỏ những suy nghĩ của mình, thì cũng giống như là ta đang dời những tảng đá lớn ấy sang một bên, giúp cho dòng nước được trôi chảy tiếp, để cho năng lượng sự sống của ta được diễn tiến và tiếp tục đi tới. Chúng ta, không vì sợ hãi những gì mình không biết, mà lại đi đắp thêm những tảng đá, xây lên những đập nước, để trốn tránh sự sống.

Vì vậy mà sự từ bỏ cũng có nghĩa là nhìn thấy rõ được mình tự bảo vệ như thế nào, ta đóng kín ra sao, và tránh né những gì, và rồi thực tập làm sao để cởi mở ra. Nó có nghĩa là ta sẵn sàng tiếp nhận bất cứ những gì đang đặt trước mặt mình, bất cứ chuyện gì đến gõ cửa ta, bất cứ câu chuyện gì xảy ra trên điện thoại.

Muốn làm được việc ấy ta phải có khả năng bước đến ngay sát bờ mé của chính mình, và chỉ khi ấy ta mới thật sự biết được thế nào là buông bỏ.

Có một câu truyện về một nhóm người cùng leo lên một ngọn núi cao. Ngọn núi có một dốc thẳng đứng và rất cheo leo. Khi leo lên được một khoảng, có vài người quay lại nhìn xuống và cảm thấy choáng váng, họ đông cứng vì sợ hãi. Những người này đã bước đến ngay bờ mé của mình và họ không thể tiến xa hơn được nữa.

Nỗi sợ hãi của họ quá lớn, khiến họ không còn dám cử động. Những người khác thì tiếp tục leo cao hơn, họ vẫn nói năng cười đùa với nhau. Nhưng khi vách núi trở nên dốc hơn, nguy hiểm hơn, lại có thêm một số người nữa trở nên đông cứng vì sợ hãi. Từ chân núi lên đến ngọn, có những điểm khác nhau mà người ta gặp được cái bờ mé của chính mình, họ bỏ cuộc và không thể nào tiến xa hơn được nữa.

Nhưng bài học của câu truyện ấy là, vấn đề ở đây không phải là nơi nào mà ta gặp bờ mé, giới hạn của mình, mà điểm quan trọng chính là ta gặp thấy nó.

Cuộc sống là một hành trình mà ta sẽ cứ tiếp tục bước đến sát bờ mé của mình, hết lần này đến lần khác. Và ngay nơi đó chính là điểm thử thách của ta! Nếu bạn là một người muốn thật sự sống, bạn sẽ tự hỏi, “Tại sao ta lại phải sợ hãi đến thế? Ta muốn trốn tránh những gì đây, ta không muốn nhìn thấy những gì đây? Tại sao ta không thể nào tiến xa hơn được nữa?”

Những người leo lên đến được đỉnh núi không phải là những kẻ anh hùng. Có thể họ không biết sợ chiều cao, nhưng rồi chắc chắn họ cũng sẽ gặp bờ mé của họ ở một nơi nào khác. Những người bỏ cuộc nửa chừng không phải là kẻ thất bại. Họ chỉ là những người đã gặp bài học của mình sớm hơn những kẻ khác mà thôi. Dầu cho sớm hay muộn gì thì rồi tất cả chúng ta đều cũng sẽ gặp bờ mé, giới hạn của chính mình.

Nhưng chúng ta phải tập buông bỏ như thế nào?
Làm sao ta có thể vượt thắng được cái năng lượng ngăn trở khiến ta trở nên bất động, không dám tiến thêm một bước nữa về một nơi mà mình không biết rõ? Làm sao ta có thể đẩy được cánh cửa đá to lớn ấy để lại tiếp tục bước qua, để sự sống trở thành một tiến trình chuyển hoá, giúp ta trở nên vô uý và linh động, như một con chim lượn bay giữa những cơn gió lớn trên bầu trời cao?

Những con thú và cây cỏ nơi vùng tôi ở tại Cape Breton, chúng rất là táo bạo và gan lì, mà cũng hay thích đùa giởn và vui tính. Thời tiết càng dữ dằn đến đâu thì những con chim ở đây lại càng ưa thích bấy nhiêu.

Chúng rất là thích thú khi mùa đông đến, khi bầu trời có những cơn gió hung bạo và thiên nhiên phủ toàn là tuyết và đá. Những con chim này thường thách thức những cơn gió lớn. Chúng đậu lên những cây cao rồi bám chặt lấy cành bằng chân và ngay cả bằng mỏ của chúng. Khi những cơn gió lớn ào đến thật mạnh, chúng buông thả ra và bị thổi tung cất bổng lên cao. Chúng dương cánh ra và bay lượn lên cơn gió. Sau một lúc, chúng lại trở về đáp xuống trên cây và bắt lại từ đầu. Nó là một trò chơi.

Có lần, tôi thấy chúng trong một trận gió lớn hung dữ như một cơn bão, chúng níu lấy chân nhau và cùng rơi xuống, rồi chúng thả nhau ra tung bay khắp nơi. Xem như là một trò hát xiệc vậy! Chúng chắc chắn phải có một sự đam mê trước những thử thách và đối với cuộc sống. Như bạn thấy, đó là một thái độ rất đẹp và đầy cảm hứng. Và chúng ta cũng giống y như vậy.

Mỗi khi ta thấy rằng mình đã bước đến sát bờ mé, giới hạn của ta, thay vì nghĩ rằng, “Mình đã lầm rồi,” ta chỉ cần công nhận cái giây phút hiện tại này và bài học của nó. Thay vì tự bảo rằng, “Không,” ta hãy nhẹ nhàng từ tốn cảm nhận con tim mình, nó có một năng lượng cởi mở, tha thứ và thương yêu đối với chính ta.

Con đường của giác ngộ là một con đường mà ta phải tiếp tục đối diện với những thử thách lớn, và rồi ta thực tập làm sao để làm mềm dịu và cởi mở nó ra. Nói một cách khác, khi đối diện với những gì là cứng rắn và ngăn trở, ta thực tập sự buông bỏ bằng cách cảm nhận nó bằng cả con tim của mình. Ta có một tâm từ đối với hoàn cảnh nan giải của mình, và cho cả cái tình trạng chung của nhân loại. Ta làm cho nó mềm dịu đi, để ta có thể thật sự ngồi yên đó với những cảm giác khó khăn của mình, và để cho chúng lại càng làm cho ta được mềm dịu hơn.

Con đường của sự từ bỏ là con đường biết chấp nhận, biết nói vâng đối với cuộc sống. Trước hết, ta ý thức rằng ta đã tiến đến ngay sát bờ mé của mình, tất cả những gì trong ta đều đang chống lại, đang nói không, và chính ngay ở điểm đó ta thực tập mềm dịu. Lúc đó là một cơ hội để ta thực tập tâm từ đối với chính mình, nó sẽ mang lại cho ta một thái độ vui tươi và cởi mở - biết vui đùa như một con chim trước một cơn gió lớn.


(Nguyễn Duy Nhiên Phỏng dịch)

154609 top -
Chào bạn dongthe,

Mình không biết.
Bạn có thể cho mình biết với nghen.
Xin cám ơn và chúc bạn thân tâm an lạc.

154859 top -
Mời các bạn nghe bài Chú Đại Bi được phổ nhạc




156757 top -
HÃY SỐNG TRONG THẾ GIỚI BIẾT ƠN

Hãy biết ơn những người khiển trách ta, vì họ giúp ta tăng trưởng định tuệ.
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hợn.
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta, vì họ đã dạy cho ta biết tự lập.
Hãy biết ơn những người đánh đập ta, vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta.
Hãy biết ơn những người lừa gạt ta, vì họ tăng tiến kiến thức cho ta.
Hãy biết ơn những người làm hại ta, vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta.
Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được kiên định thành tựu.

Trích những lời khai thị vàng ngọc của Tịnh Không Pháp Sư.

P/S : Thân chào Gia đình phật tử của ngôi nhà VDT yêu thương,chanhtin cũng là một phật tử nên rất vui khi được góp phần chia sẻ với các bạn. Và xin được biết ơn VDT đã cho những người con Phật có nơi chốn để cùng nhau trao đổi pháp vị nhiệm mầu.
Thân

156769 top -
Ý nghĩa Lễ Vu Lan
Tâm Diệu


Hàng năm cứ vào độ trăng tròn tháng Bảy âm lịch, tức khoảng trung tuần tháng Tám dương lịch là ngày lễ Vu Lan trở về. Vào ngày này các chùa Việt Nam và Trung Hoa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến tham dự rất đông đảo để cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được an lạc, cha mẹ quá vãng được siêu sanh tịnh độ, cùng là được nghe các thầy giảng về ý nghĩa lễ Vu Lan và đạo hiếu của người con đối với các bậc sinh thành.

Lễ Vu Lan chính thức được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật Giáo Đại Thừa "Phật Thuyết Kinh Vu Lan Bồn", do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán vào đời Tây Tấn, tức khoảng năm 750-801 sau Công Nguyên và được truyền từ Trung Hoa vào Việt Nam, không rõ từ năm nào.

Chữ Vu Lan, vốn phiên âm từ tiếng Sanscrit: Ullambana, Hán dịch là giải đảo huyền, có nghĩa là “cứu nạn treo ngược”. Giải có nghĩa là gỡ ra cho khỏi vướng mắc, cởi trói buộc, giải mê lầm. Ðảo là ngược, cũng có nghĩa bóng là những hành động điên đảo gây nên do sự thấy biết sai lầm, như việc phải cho là quấy và việc quấy cho là phải; do đó tạo nghiệp dẫn đến cảnh khổ. Huyền là treo. Ðảo huyền là treo ngược, đầu trở xuống đất, chân đưa lên trời. Cụm từ “giải đảo huyền” nghĩa là cởi trói cho người bị treo ngược, gỡ cho họ khỏi gông cùm xiềng xích, khỏi khổ đau ách nạn. Sâu xa, giải đảo huyền còn có nghĩa là giải thoát khỏi tất cả những mối phiền não, những dây luyến ái đã từng trói buộc cái tâm đi luân hồi, giải thoát khỏi sự trói buộc cuả tâm tham, tâm sân và tâm si.

Kinh Vu Lan kể rằng: sau khi đắc quả A La Hán, đạt được tâm bất sinh, Bồ Tát Mục Kiền Liên muốn độ cho mẹ là bà Thanh Ðề, bèn dùng thần thông kiếm tìm mẫu thân, thì thấy bà đang ở cõi ngạ quỷ vô cùng đói khổ. Ngài đem cơm đến dâng mẹ, nhưng mẹ ngài khi được cơm thì lòng tham nổi lên, sợ người khác trông thấy mà đến dành giựt hay xin bớt, cho nên bà một tay che bát cơm lại, một tay bốc ăn. Bởi lòng tham lam độc ác trong tiền kiếp nổi bừng lên, nên cơm đưa vào miệng liền biến thành than hồng không ăn được. Ngài vô cùng thương xót mà không biết làm sao cứu, bèn trở về thưa với Phật, xin ngài từ bi chỉ dạy phương pháp cứu độ mẹ. Phật dạy rằng vào ngày trăng tròn tháng bảy, tức là ngày lễ Tự Thứ của chư Tăng, sau ba tháng an cư kết hạ thanh tịnh, hãy sắm lễ vật và thỉnh chúng Tăng để cúng dường, nhờ sự chú nguyện của chúng Tăng thì mẹ Ngài sẽ được gỉai thoát. Ngài Mục Kiền Liên tuân theo lời Phật dạy, thỉnh chúng Tăng chú nguyện và nhờ đó mẹ ngài, bà Thanh Ðề đã được sanh về cõi trời.

Hình ảnh bà Thanh Ðề chụp ngay bát cơm khi ngài Mục Kiền Liên dâng lên, một tay che không cho người khác thấy vì sợ bị giựt, một tay bốc ăn, nói lên cái tâm mê muội tham lam của con người và hình ảnh khi bà vừa đưa tay bốc cơm thì cơm hoá thành than hồng cháy đỏ, bụng đói mà không sao ăn được, nói lên cảnh giới địa ngục. Thật ra ba cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh hay còn gọi là ba đường ác, có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong con người chúng ta. Bất cứ lúc nào chúng ta nóng giận là lửa địa ngục sân hận bừng cháy. Bất cứ khi nào tham dục nảy sinh trong tâm ta là chúng ta sống trong cảnh giới ngạ quỷ. Địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh là những nơi thọ quả báo của những chúng sanh gieo trồng nhân tham lam, sân hận và si mê. Nếu con người không chế ngự được ba thứ độc dược này thì luôn luôn sống trong toan tính, rồi từ đó ăn không ngon, ngủ không yên, triền miên đau khổ phiền não, luôn sống trong ác mộng và cuộc đời biến thành địa ngục lúc nào không hay biết.

Quả là như thế, con người khi tham mà không được thì hay nổi sân và mỗi khi tham và sân chế ngự được tâm chúng ta thì chúng ta không còn kiểm soát được lời nói, ý nghĩ và việc làm nữa, do đó tâm thần trở nên bất an, xao động và hỗn loạn, nói những lời không nên nói, làm những việc không nên làm, và mang nhiều tư tưởng xấu xa đen tối. Nói cách khác, ta đang sống trong cảnh giới địa ngục vậy.

Thật ra, tâm bà Thanh Ðề cũng có thể là tâm mẹ quá khứ của chúng ta và cũng có thể là tâm tham sân si của chính mình. Vì thế, muốn được siêu thoát, ngoài yếu tố chính là cọng lực chú nguyện của chư Thánh Tăng tác động lên tâm bà Thanh Đề, thì tâm bà Thanh Đề hay tâm mẹ quá khứ của chúng ta phải tự thức tỉnh, tự chuyển tâm sám hối lỗi lầm. Một khi tâm chuyển là cảnh giới địa ngục của chính mình tan rã, tựa như ánh sáng xoá tan màn đêm đen tối. Nếu không tự thức tỉnh, không tự chuyển hoá tâm, thì sức chú nguyện của chư Thánh Tăng cũng không thể nào cảm ứng để mà giải cứu được, bởi vì đối với Phật giáo, việc tái sinh đã không do một đấng sáng tạo mà do theo luật nhân quả tác động thì việc cứu độ vong linh cũng thế, cũng tuỳ thuộc vào luật nhân quả, chứ không thể cầu khẩn một đấng thần linh nào cứu được.

Sở dĩ bà Thanh Đề thoát khỏi cảnh giới địa ngục, sinh về cõi trời là do sức mạnh bởi sự chú nguyện của chư Thánh Tăng và do sự tự thức tỉnh của bà Thanh Đề. Khác với sự cầu nguyện nơi một số tôn giáo khác, chú nguyện là tập trung hết năng lượng tư tưởng của mình vào một điều gì mình muốn cho tha nhân. Năng lực được tập trung lại đó có thể làm thay đổi tình thế như tia sáng Laser ngày nay do sự hội tụ của ánh sáng có thể đốt cháy được một vật ở rất xa ngoài không gian. Một ví dụ điển hình khác là các nhà thôi miên, bằng sự tập trung tư tưởng vào một người, có thể nâng người đó lên hay di chuyển thân người đó dễ dàng. Ðây là vấn đề sức mạnh của tư tưởng mà các nhà khoa học hiện đại đều công nhận.

Các cao Tăng hay còn gọi là thanh tịnh Tăng, sau thời gian ba tháng an cư thiền định thường có tâm lực rất mạnh, dễ dàng tác động vào tâm của bà Thanh Ðề khiến bà thấu rõ tội ác của mình trong quá khứ và nổi niệm sám hối, chuyển đổi tâm niệm, từ tâm ích kỷ tham lam độc ác, thành tâm vị tha quảng đại. Hễ tâm thay đổi thì ngay đó cảnh giới địa ngục khổ sở tan rã, theo như câu: "Tội tuỳ tâm sinh, tội tùng tâm diệt" hay "khổ tuỳ tâm sinh, khổ tùng tâm diệt". Nhờ vậy bà thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, rời khỏi chốn địa ngục tối tăm cực khổ mà sinh vào cảnh giới an lành, không có sự can thiệp của thần linh nào vào đây cả. Ngài Mục Kiền Liên, tuy là bậc thần thông đệ nhất nhưng với đạo lực một mình vẫn không thể nào thay đổi được luật nhân quả, cứu vớt nổi mẫu thân, nên đã phải nhờ đến sức chú nguyện tập thể của mười phương Tăng trong ngày Tự tứ.

Chúng ta cũng cần nhớ rằng kinh Phật thường có vô lượng nghĩa, để khế hợp với vô lượng tâm chúng sanh. Ðức Phật là bậc đại từ đại bi, sau khi giác ngộ, Ngài trực nhận ra rằng tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh, nhưng chỉ vì bị ba thứ độc hại: tham, sân và si lôi kéo mà bị dẫn đi trong luân hồi, như trường hợp bà Thanh Đề. Ngài muốn trải ruộng phước cho chúng sinh trồng xuống cây bố thí, đó là cánh cửa đầu tiên để cho chúng sinh tập hạnh xả bỏ, bớt đắm nhiễm vào của cải, bớt tham lam bỏn sẻn, cho nên Ngài dùng phương tiện thiện xảo dạy chúng sinh thực hiện pháp cúng dường chư Tăng, vừa tạo duyên lành cho Phật tử gieo trồng nhân thiện, vừa dạy cư sĩ thực hiện nhiệm vụ hộ trì Tam Bảo, ngõ hầu chư Tăng ni có được đầy đủ vật dụng cần thiết mà an tâm tu hành cho tới giác ngộ, để tiếp tục trao truyền ngọn đèn chánh pháp, độ thoát cho hết thảy chúng sanh khỏi sanh già bệnh tử.

Tưởng cũng nên biết, trong dịp lễ hội Vu Lan, ngoài việc tụng kinh cầu siêu, thiết lễ cúng dường trai tăng tại các tự viện còn là ngày xá tội vong nhân. Đó là ngày tha thứ mọi lỗi lầm, ngày ăn năn, sám hối, mong được tha thứ lỗi lầm. Nhờ ý nghĩa tha thứ những lỗi lầm đó nên cũng chính ngày này chư Tăng, Ni thành tâm chú nguyện cho các vong linh sớm thoát khỏi những kiếp khổ đau. Ngày xá tội vong nhân được dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Lễ cúng cô hồn được truyền từ Ấn Độ vào Trung Hoa vào thời Đường và được truyền sang nước Việt từ năm 1302, sau đó lễ này rất thịnh hành vào thời đại Phật Gíao nhà Trần qua việc tổ chức các trai đàn chẩn tế, gọi là “diệm khẩu phổ thí pháp hội” có nghĩa là những đại hội về Phật Pháp để bố thí thức ăn cho loài quỷ đói. Phép này được thực hành trên căn bản một tác phẩm tên là “Thí Chư Ngạ Quỷ Ẩm Thực Cập Thủy Pháp” do Bất Không dịch vào thế kỷ thứ tám, đời Ðường . Theo sự tích thì một đêm A Nan Tôn Giả, đệ tử Phật, thấy một con quỷ đói tên là Diệm Khẩu xin A Nan cho ăn cơm. A Nan hỏi Phật, nhân đó Phật chỉ bày phương pháp thí thực cho ngạ quỷ tức là quỷ đói.

Lễ cúng cô hồn khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng. Dần dà về sau tại miền Nam Việt Nam, tập tục cúng cô hồn này biến thể từ hình thức đến nội dung, chuyển từ khuôn viên chùa ra ngoài dân gian và được lan rộng tổ chức tại các xí nghiệp thương mại và tại các công ty tư lập theo truyền tụng rằng, ngày này cửa địa ngục rộng mở, ngạ quỷ được phóng thích, nên cúng tế chúng để được buôn may bán đắt, tai qua nạn khỏi.

Ngày xưa cúng cháo hoa và vàng mã cho cô hồn, canh ốc nhồi nấu với chuối xanh cho người sống; ngày nay giết gà, mổ bò, mổ heo làm cỗ linh đình gọi là cúng cô hồn nhưng thực là cúng cho người sống. Là Phật tử chúng ta không nên đi theo vết mòn xưa cũ, chỉ nên cúng chay theo truyền thống mà không nên giết hại súc vật và nên phát tâm bố thí đến những người nghèo khổ cùng là phóng sinh để báo hiếu cho cha mẹ ông bà quá vãng.

(Thư viện Hoa Sen)

161394 top -
Cảm ơn chị Phương đã post bài Ý Nghĩa Lễ Vu Lan. Tuy rằng có nhiều từ Phật giáo Danny không hiểu nhưng Danny hiểu được nội dung của bài này. Trước giờ D cứ nghĩ ngày Vu Lan đại khái giống như ngày Mother's Day, nhưng hôm nay D biết được nguồn gốc cũng như hiểu biết hơn ý nghĩa thiêng liêng của ngày lể Vu Lan.

Tuy Danny đạo Tin Lành nhưng D rất thích được nghe những lời dạy của Phật giáo và rất ngưỡng mộ cũng như hết sức kính trọng các vị thầy tu đạo Phật. Trước giờ D vẫn kính trọng các thầy tu, và đặc biệt D càng thầm phục và kính trọng họ hơn là sau ngày Mẹ D mất. Sau ngày Mẹ mất D đã ăn chay trong vòng 49 ngày. Trải qua 49 ngày đó D càng thấu hiểu và càng khâm phục các thầy tu đạo Phật. Họ đã sẵn sàng và chấp nhận hy sinh tất cả vì chúng sinh trong suốt cuộc đời còn lại trên trần gian này. Không vợ, không thịt cá, không tửu sắc, không tham vọng quyền quý địa vị, không một lời oán than hay trách móc cho dù là bị gì đi nữa, không màng phù du vật chất, không sát sinh cho dù là một con kiến bé nhỏ. Một đời chỉ bên chiếc chuông, chiếc mõ mà cầu nguyện cho thế nhân. Thật không còn lời nào để nói lên những tấm lòng từ bi cao quý như thế.

Năm nay nói như đạo Phật là D không còn và sẽ mãi mãi không còn được cài hoa hồng đỏ lên áo nữa. Cầu mong mùa Vu Lan năm nay những ai đang còn được cài hoa hồng đỏ hãy trân trọng và quý mến người sinh ra mình. Cầu chúc những người Mẹ nhiều sức khoẻ, an lành bên cạnh con cháu lâu hơn.

(Vì D không phải là Phật tử nên nếu có viết những lời nào không đúng, không vừa lòng ai thì xin thông cảm và miễn thứ cho)

161533 top -
mình xin chia se đường link của chùa hoằng pháp (hóc môn), trong đây có các bài giảng audio và video của các thầy nữa (trong mục Pháp âm)
http://www.chuahoangphap.com

161543 top -
Ý NGHĨA LỄ BÔNG HỒNG CÀI ÁO


Image
Mùa Vu lan về, tôi lại nặng trĩu lòng khi nhớ đến Mẹ. Thực ra nói và viết về Mẹ đã là một việc làm không phải, mà phải sống như Mẹ, sống tốt với Mẹ, bây giờ Mẹ không còn thì dù ta có nói hay mấy đi nữa cũng chẳng ăn thua gì đâu.
Tuy vậy, trên thực tế vẫn có những câu thơ, những áng văn bất hủ để ca ngợi hình ảnh thiêng liêng và giá trị tình thương vô bờ bến của Mẹ, cũng chính là để nhắc nhở những ai có hạnh phúc đang còn Mẹ, rằng hãy đừng quên, và đừng làm Mẹ buồn khổ.

Trong nhân gian, ai mà lại không có Mẹ. Từ người làm vua cho đến kẻ cùng đinh hà tiện tất thảy đều do Mẹ sinh ra và nuôi lớn. Mẹ của người làm vua và Mẹ của kẻ cùng đinh hà tiện đều thương con như nhau, dù khổ đau lam lũ hay hạnh phúc cao sang thì giá trị tình thương của Mẹ vẫn luôn không thay đổi. Thế nhưng những người con thương Mẹ thì lại khác.

Cho nên hàng năm, cứ đến mùa Vu lan, hầu hết người Việt Nam, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng đều được dự lễ “Bông Hồng cài áo”, để tưởng nhớ công ơn của Mẹ, dù còn hiện tiền hay không còn lưu dấu.

“Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù Người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa”.

(Tản văn “Bông hồng cài áo” của Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh)

Tôi cũng được cài bông hồng, nhưng lại “phải” cài bông hồng màu Trắng, rất quý nhưng rất buồn. Nhìn mọi người cài hoa cho nhau trong những ngày lễ Cài bông hồng lúc trước tôi như chìm hẳn vào dòng suy tư miên man, và bỗng suy nghĩ về xuất xứ của ngày lễ này (lễ “Bông hồng cài áo”).

Lễ cài bông hồng lên áo đã như là một lễ hội đối với người Việt nói chung và giới Tăng Ni Phật tử nói riêng, cho dù bạn có là Phật tử hay chưa phải là Phật tử bạn cũng được tham dự và được cài bông hồng, đó là giá trị tinh thần và giá trị văn hoá, giáo dục cao. Đã là lễ hội vậy nó có từ lúc nào? Tại sao lại là bông hồng mà không là loại bông hoa nào khác? Và lễ hội này là của người Việt Nam hay còn dân tộc nào khác?

Vào những năm cuả thập niên 60 ở thế kỷ trước, cài bông hồng trong một dịp kết thúc khoá tu do Hoà thượng Thích Nhất Hạnh tổ chức, theo Ngài là có một ý nghĩa đền đáp “Tứ ân” và để nhắc nhở với đại chúng trong lúc tham dự, về sự biết ơn, báo ơn nhằm hoá giải những oán kết giữa con người với vạn loại trong cuộc sống vốn có nhiều mối ràng buộc chằng chịt với nhau, đó cũng chính là tông chỉ của tình thương và hoà hợp.

Sau đó nghi thức “Bông hồng cài áo” được giới thiệu với người Việt từ một cuốn sách cùng tên của Hoà thượng Thích Nhất Hạnh, được viết vào tháng 8 năm 1962, cùng thời điểm đó nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ đã sáng tác nhạc phẩm “Bông hồng cài áo” - đến nay bài hát đó được coi như là “bài hát vàng” (xin đừng hiểu lầm là “nhạc vàng). Từ đó nghi thức cài bông hồng trong ngày Vu lan được phổ thông hoá và trở thành ngày lễ, đến nay là trên bốn mươi lăm năm.

Tại Mỹ, Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5. Đây là dịp mà những người mẹ nhận được nhiều thiệp, quà và hoa. Ngày của mẹ đầu tiên được tổ chức tại Philadelphia, năm 1907, dựa vào ý kiến của Julia Ward Howe năm 1892 và của Anna Jarvis năm 1907. Mặc dù trước đó chưa hề có Ngày của Mẹ nhưng vẫn có những sự kiện đặc biệt dành cho mẹ ở Hy Lạp trước đó để tỏ lòng thành đối với Người mẹ của các vị thần, Rhea, vợ của Cronut.

Sau đó, tại Anh, vào những năm của thập niên 1600 vẫn có những ngày gọi là Ngày chủ nhật của Mẹ, được tổ chức trong dịp lễ Phục Sinh, vào ngày chủ nhật thứ tư. Vào ngày này, những nô lệ được trở về nhà thăm mẹ. Việc tặng mẹ những chiếc bánh đặc biệt cùng với việc tổ chức lễ hội cũng dần trở thành truyền thống.

Các nước trên thế giới cũng tổ chức Ngày của Mẹ vào những thời gian khác nhau trong năm. Tại Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kì, Úc và Bỉ, ngày của mẹ cũng được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng năm, sau dịp Lễ Tạ Ơn.
Nhật cũng lấy ngày Chủ nhật thứ 2 trong tháng 5 là ngày của Mẹ (Mother's Day). Trong ngày này, con cái thường tặng mẹ hoa cẩm chướng đỏ (carnation) và những món quà nho nhỏ để bày tỏ lòng kính yêu mẹ.

Phong tục này khởi đầu từ thành phố Grafton, West Virginia (Hoa Kỳ) vào ngày 09 tháng 05 năm 1907 và người đầu tiên lấy hoa cẩm chường đỏ và trắng để vinh danh các bà mẹ là cô Anna Jarvis. Cô là người bỏ cả đời ra để vận động cho một ngày lễ mẹ trên toàn quốc Hoa Kỳ để vinh danh các bà mẹ, trong đó có thân mẫu của cô đã tận tụy nuôi 11 người con. Hôm đó là ngày chủ nhật mồng 9 tháng 5, Anna đã tổ chức một ngày Mother's Day trong nhà thờ nhỏ tại Grafton. Khi đó, Mother's day chưa được chấp thuận là National Holiday.

Anna Jarvis từ Grafton, West Virginia bắt đầu cuộc vận động để tổ chức Ngày lễ Quốc tế dành cho Mẹ. Anna Jarvis thuyết phục mẹ của bà ở nhà thờ tại Grafton để tổ chức Ngày của Mẹ ngay dịp giỗ của bà ngoại của bà. Thế là một loạt các nghi thức được tổ chức vào ngày 10 tháng 5 năm 1908 tại Philadelphia vào năm sau đó. Cùng với một số người khác, Anna Jarvis cũng bắt đầu viết những lá thư vận động gửi đến các nhà cầm quyền, thương nhân, chính trị gia để trình bày về việc tổ chức Ngày của Mẹ và họ đã thành công. Woodrow Wilson đã làm bảng thông cáo về việc chính thức tổ chức Ngày của Mẹ vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5 từ năm 1914.

Các nước phương Tây có khởi nguồn phong tục ngày của Mẹ (Mother’s day) vào sau dịp Lễ Tạ ơn, vì hầu hết họ theo Thiên Chúa giáo, và dùng hoa cẩm chướng đỏ và trắng là theo truyền thuyết Ki tô giáo, hoa cẩm chướng sanh ra từ những giọt nước mắt của Đức mẹ Maria lúc bà theo chân Chúa Jesus trên đoạn đường vác thánh giá. Vì vậy, hoa cẩm chướng tượng trưng cho tình yêu bất tử của người Mẹ. Và trong ngày lễ là các con tặng quà, hoa, thiệp và bánh cho Mẹ (chứ không phải tặng nhau).

Do vậy ở người Việt ta có giá trị văn hoá và phong tục Á đông (đại đa số là theo Phật), nên lấy ý nghĩa tri ân và báo ân cha mẹ mà tặng hoa cho nhau để nhắc nhở nhau kính trọng cha mẹ, sống thật tốt với cha mẹ. Điều quan trọng là đối với người Việt bông hồng thông dụng và dễ thương nhất, mang quy ước biểu hiện tình yêu, và do có một khởi đầu từ nghi thức tặng hoa hồng trong khoá tu của Hoà thượng Thích Nhất Hạnh và giới thiệu nó trong cuốn sách có tựa đề “Bông hồng cái áo” của Ngài nên đến nay chúng ta sử dụng hoa hồng trong ngày lễ, chứ thực ra hoa gì cũng được, miễn đẹp là được rồi, với lại giá trị của sự việc là ở chỗ tinh thần chứ không phải ở hoa. Tấm lòng đẹp thì hoa gì cũng đẹp, tấm lòng đã không đẹp thì hoa lưu ly cũng vậy thôi.

Hồng Tuệ

Image

161597 top -
Một Ngày Cho Mẹ

Tác Giả: Võ Hồng

Sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại.
Tôi thì thầm hỏi Nhung:
--Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại?
Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ:
--Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan.
Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
Những em thiếu nhi quần sóoc xanh dương đậm, sơ mi màu da trời tíu tít đóng cọc, chăng dây theo lệnh của mấy anh huynh trưởng. Sau một giờ, họ đã hoàn thành hai dãy lều nhỏ thật gọn, thật xinh. Dãy nhà tôn ngày thường dùng làm chỗ để xe đạp, hôm nay được trang hoàng cũng thật nhanh. Khi chuông rung ra chơi thì dãy nhà tôn biến thành phòng triển lãm. Họ kéo vải trắng làm phông, họ phủ vải trắng hai bên dãy ghế dài làm chỗ trưng bày sản phẩm triển lãm. Chúng tôi bất chấp hàng dây neo to chăng làm ranh giới, chúng tôi cứ chui luồn dưới dây để vào xem.
Buổi chiều, các em Oanh, Vũ mang những cái hộp lớn kèm với những giỏ hoa. Tiếng loa phóng thanh lanh lảnh:
--Bông hồng cài áo! Mùa Vu Lan là mùa báo hiếu. Báo hiếu trước hết cho Mẹ. Cho Cha rồi Ông Bà, tổ tiên. Ai vui mừng vì Mẹ còn tại thế thì xin cài một đoá hoa hồng. Ai xót xa Mẹ đã qua đời xin cài lên một đóa hoa màu trắng. Nơi giỏ hoa này, xin các bạn chọn. Bạn vui lòng bỏ vô hộp một ít tiền mà bạn có dư. Tiền đó sẽ giúp cô nhi viện.
Chúng tôi nghe nói giúp cô nhi viện thì rủ nhau đi xuống sân. Hai em Oanh, Vũ tiến lại gần chúng tôi:
--Chị cần hoa hồng hay hoa trắng?
Nga nói:
--Hoa hồng.
Một em mỉm cười:
--Em xin chia nỗi vui mừng với chị.
Em thứ hai:
--Chị đưa hoa đây em cài lên áo cho chị.
Em bé đứng thấp nên Nga phải cong người xuống.
Đoá hoa xếp bằng lụa mỏng màu hồng tươi, cánh mướt trông mỹ miều như hoa thật. Khi hoa đã cài chắc lên áo, Nga mở nắm tay vào khe hộp bỏ một tờ giấy năm mươi đồng.
Phước Võ tiến tới chọn lấy ở trong giỏ một đóa hoa hồng. Và Phước Võ xếp nhỏ một tờ giấy bạc - tôi không kịp thấy bao nhiêu - nhét vào trong khe hộp. Tôi lặng lẽ nhặt một hoa trắng, ra dấu Mai cài lên áo dùm tôi. Không có đứa nào ngạc nhiên vì đứa nào cũng biết má tôi mất hồi tôi mới lên ba tuổi. Chúng nó chỉ biểu lộ nét buồn bằng sự im lặng. Tôi xếp một tờ giấy trăm đẩy vào khe hộp. Tiếp theo là Xuân, Mai, Thu lan. Đứa nào cũng cài hoa hồng. Tôi thầm cảm tạ Thựơng Đế đã bảo vệ một người Mẹ cho mỗi đứa.
Từ nãy giờ con Vĩnh Hiệp cùng đi với chúng tôi nhưng nó chỉ đứng im lặng. Xuân quay hỏi nó:
--Vĩnh Hiệp, mày không cài một đóa hoa?
Thu Lan nhặt một đóa hoa màu hồng trao cho nó. Nó cầm lên rồi bỏ xuống giỏ. Chúng tôi ngạc nhiên vì thái độ thiếu thiện chí đó. Cùng đi với nhau mà nó không chịu hoà đồng với chúng tôi. Nhưng lạ nó không chịu rời tay ra khỏi giỏ. Rồi một lúc chúng tôi không ngờ nhất, nó cầm lên một đoá hoa trắng. Nó khẽ bảo Nga:
--Gài lên áo dùm cho mình.
Chúng tôi đều ngạc nhiên. Học chung với Vĩnh Hiệp hơn hai năm rồi mà chúng tôi không hề biết nó mất mẹ.
Nga cài hoa lên áo nó xong, nó xếp một tờ giấy một trăm đồng bỏ vào thùng. Chúng tôi tiếp tục đi nhưng ai nấy đều im lặng. Không biết nên nói cái gì vì cái gì cũng dư, cũng vô ích. An ủi nó chăng? Tôi không biết nên chọn lời nào. Đành im lặng vậy. Đến lúc đó tôi mới chợt biết: chia vui thật dễ. Còn chia buồn....
Chuông rung, chúng tôi vào lớp. Hai giờ toán trôi qua. Chúng tôi được nghỉ ra chơi. Chuông lại rung, chúng tôi vào lớp trở lại. Còn một giờ nữa, giờ chót của ngày hôm nay, giờ Hóa Học. Thầy Khang tươi cười bước vào lớp. Chắc thầy vừa nói chuyện gì vui với các thầy khác ở ngoài văn phòng nên thầy còn giữ nụ cười. Chúng tôi đứng dậy chào, thầy đứng ở bàn chào lại. Tôi chợt thấy thầy nhìn chăm chăm chúng tôi, vẻ ngạc nhiên lộ trên nét mặt. Thầy để tắt nụ cười, cho chúng tôi ngồi xuống. Hỏi bài cũ, giảng bài mới, công việt tuần tự trôi qua. Bài giảng xong, còn chừng mười phút thì hết giờ, thầy chợt nói:
--Hôm nay các em cài hoa....
Nhiều cái miệng "ồ" lên một lượt:
--Dạ, Bông hồng cài áo, thầy.
Thầy gật đầu. Im lặng một giây, thầy nói:
--Tôi vui mừng thấy màu hoa hồng nở trên áo các em, và đau xót khi thấy một đóa hồng trắng. Trong lớp này hoa hồng nhiều mà hoa trắng chỉ có một, hai.
Chúng tôi đưa mắt nhìn về Vĩnh Hiệp.
--Rất nhiều người chưa cài hoa. Nhất là con trai. Con trai đi học không có sẵn tiền đem theo nên không có hoa để cài. Nếu tất cả đều cài thì tôi mong chỉ rặt một màu hồng. Hai, ba đóa hoa trắng trong một lớp đủ làm tâm hồn tôi u buồn. Tôi tha thiết muốn tất cả các em đều vui vẻ, sung sướng, bởi nếu mất đi một người mẹ thì ta không thể nào vui vẻ sung sướng được. Khi thầy ngừng nói, Yến chồm người tới hỏi:
--Lát nữa thầy cũng cài hoa lên áo chớ, thầy? Thầy cài màu gì?
Giọng thầy nói nhỏ lại:
--Màu trắng.
--.......
--...Chắc những người lớn như tôi đa số phải cài màu trắng. Và như vậy thì màu hồng sẽ nổi bật lên, mọi người sẽ bao vây để chúc tụng sự trường thọ phúc đức của mẫu thân người nào còn cài được đóa hoa hồng. Nhưng "Ngày của Mẹ" đặc biệt dành cho các em nhiều hơn. Bởi má các em còn sống và các em phải biểu lộ lòng hiếu.
Thằng Độ:
--Đi học nghèo mạt rệp, muốn ăn cà rem cũng xin tiền bả, muốn cúp tóc cũng xin tiền bả, muốn mua sách cũng đẽo tiền bả, mình nghèo kiểu đó thì lấy tiền đâu mà mua quà mà báo hiếu.
Nghĩa dơ một ngón tay xin nói:
--Năm đệ thất có học bài "Báo hiếu cha mẹ" rồi. Học giỏi là báo hiếu. Vâng lời cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ, thương yêu cha mẹ là báo hiếu.
Độ chống chế:
--Học trong bài là một chuyện, áp dụng thực tế ngoài đời là một chuyện. Nói như mày ai nói mà không được?
Đúng là thằng Độ già miệng, lại còn nói dóc nữa. "Nói như mày ai nói không được". Phải có thuộc bài thì mới nói chớ. Đâu có dễ? Mà Độ thì chuyên môn cúp cua.
--Văn, Thơ, Nhạc, Họa... đều ca ngợi người mẹ rất nhiều, - thầy nói tiếp - Ai cũng biết lòng mẹ là đại dương, bàn tay mẹ là dịu hiền, tia mắt nhìn của mẹ là trìu mến. Riêng tôi thì tôi thấy rằng càng lớn lên chúng ta càng cực nhọc lao khổ, nếu không cực thể xác thì tinh thần. Giữa những hồi mệt mỏi, chán nản như vậy, ta hay ngồi nhớ lại quá khứ, đoạn quá khứ nào êm đềm nhất của ta. Đối với mọi người, đoạn quá khứ êm đềm là đoạn ta sống bên cạnh mẹ ta. "Ngày của Mẹ" nhắc nhớ ta, khi còn nhỏ, đừng làm điều gì cho mẹ buồn. Chăm học, ngoan ngoãn vâng lời... là những bổn phận hàng ngày. Khi ta lớn lên và mẹ ta đã già "Ngày của Mẹ" càng trở nên cần thiết.
--"Ngày của Mẹ" là ngày gì vậy thầy? - Một tiếng cất lên hỏi cắt ngang câu nói của thầy.
--À, tôi quên chưa giải thích. Ở nhiều nước, người ta lấy một ngày trong năm, ngày chủ nhật thứ nhì của tháng Năm, đặt tên là "Ngày của Mẹ". Trong ngày đó các người con tụ hội xung quanh mẹ để chúc tụng, để vấn an, để biểu lộ cụ thể lòng hiếu thảo của mình. Biểu lộ bằng hoa, bằng quà, bằng diễn từ, bằng tiệc mừng. Các em hiểu chưa?
--Dạ hiểu.
--Lúc nãy tôi nói tới chỗ ta càng lớn mẹ càng già thì "Ngày của Mẹ" càng trở nên cần thiết. Đố các em có biết vì sao không?
Không ai muốn suy nghĩ để trả lời hết. Ai cũng "dạ không" để trả lời lại câu hỏi của thầy, thầy đành tiếp tục:
--Bởi vì mẹ không còn nhanh nhẹn nữa. Không còn khoẻ mạnh nữa, không còn sáng suốt nữa mà chúng ta có một người mẹ nghễnh ngãng, đau ốm thường xuyên. Những lúc đó người con thường không còn giữ lòng yêu mến trọn vẹn như xưa, thậm chí có người còn bạc đãi mẹ, nặng lời với mẹ. Các em có thấy xung quanh mình những cảnh này không?
Nhiều người nhao nhao trả lời "Dạ có".
Thầy chỉ ngay Trọng hỏi:
--Em thấy "có" như thế nào?
Trọng đứng dậy:
--Dạ ở gần nhà em có một ông công chức. Mẹ ổng già hơn tám mươi tuổi, bệnh liên miên. Bà vợ ổng ngán quá, than trời. Hồi nào ông công chức ở nhà thì đỡ, hễ ông đi làm là bà vợ mắng bà già sa sả. May bà già điếc nên cứ tha hồ mắng, bả chẳng trả lời.
Cần vừa giơ tay vừa đứng dậy:
--Dâu mắng còn đỡ. Đằng này thằng con trai cũng mắng mẹ nữa.
Thầy hỏi:
--Em thấy ở đâu vậy?
--Dạ hồi ba em còn làm việc ở Ba Xuyên chưa ra đây, em có biết một ông chủ tiệm xe đạp. Bà mẹ ổng già mà sanh bệnh lở lói cùng mình. Ổng cứ rủa cho bả mau chết.
Thầy rầu rầu nét mặt và chúng tôi cũng thấy buồn lây.
Bửu vô ý nhất lớp, giơ tay hỏi thầy:
--Như vậy thì bày ra "Ngày của Mẹ" làm chi thầy? Người lớn họ bất hiếu quá mà.
Thầy dịu dàng nhìn:
--Số người bất hiếu không nhiều như em nghĩ đâu. Mà thường thì khi lớn lên chúng ta bận rộn nhiều công việc, nhiều mối lo khiến ta không còn nhiều thì giờ để nghĩ đến cha mẹ, để trò chuyện âu yếm cùng mẹ, để săn sóc mẹ. Chính vì lẽ đó mà người ta bày ra "Ngày của Mẹ". Nó nhắc nhở ta nhớ đến công lao của người đã mang nặng đẻ đau, người săn sóc bú mớm, người chăm lo từng li từng tí từ khi ta còn măng sữa yếu đuối. Cha dẫu thương con nhưng không nặng bằng tình mẹ. Cha dẫu làm việc nhọc nhằn nhưng quấn quít trìu mến thì mẹ hơn hẳn cha.
--Mình có thể lấy ngày Rằm tháng Bảy, - Ngọc nói.
--.... Như gia đình Phật Tử đang làm đó, - Thầy tiếp lời - Trong khi chờ đợi cho một ngày chính thức cho toàn quốc thì ta tạm lấy ngày rằm tháng Bảy. Phải đó, sang năm chúng ta sẽ thấy thêm thương mến người bạn nào mang đóa hoa màu trắng. Chúng ta dồn tất cả tình yêu của mình cho người bạn không may đó.
Chuông reo bãi lớp đã từ lâu mà chúng tôi không bồn chồn đi về như mọi lần khác. Thầy nhìn xuống đồng hồ rồi bảo chúng tôi:
--Thôi các em ra về. Thầy chúc các em một ngày lễ Vu Lan đầm ấm trong gia đình.
Chúng tôi rào rào xếp cặp đứng dậy lũ lượt ra khỏi lớp. Thầy đứng ở bàn nhìn theo và thầy ra sau cùng.
Trên đường về nhà, óc tôi cứ bị vấn vương về những điều thầy vừa nói. Một ngày lễ Vu Lan đầm ấm ! Thầy ơi, suốt cả đời con, sẽ không có một ngày lễ Vu Lan nào đầm ấm như lời thầy vừa mong ước cho chúng con đâu.

161734 top -
Chào Danny_Le,

Chị đã đọc và hiểu rõ những gì em đã viết.
Chị không ngạc nhiên vì em Đạo Tin Lành nhưng lại thích nghe lời dạy của Phật Giáo.

Theo chị, Đạo nào cũng khuyên chúng ta nên hướng tâm lành, tránh xa điều dữ.

Ngày chị thập tử nhất sinh ở Singapore, có 5 Đại diện của 5 Tôn giáo đến bên giường chị nằm và cầu nguyện.
Từ đó, chị hiểu càng thấu đáo hơn nữa về TÂM LÀNH của các tôn giáo.

Chúc em và gia đình thân tâm an lạc.

Cầu nguyện hương hồn Mẹ em được tiêu diêu miền Cực Lạc


162484 top -
Cảm ơn chị Phương.

162501 top -
MẸ LÀ PHẬT

Tác giả: Liên Hương

Mẹ là Phật của đời con
Mà con cứ ngỡ Phật còn đâu xa
Đời Mẹ vất vả buôn ba
Thức khuya, dậy sớm thân già vì con
Chín tháng thai ngén gầy còm
Cơm ăn chẳng đặng, héo mòn xanh xao
Đến ngày sinh nở đớn đau
Thân thể mỏi mệt máu đào chứa chan
Được nghe con trẻ khóc ran
Lòng Mẹ hạnh phúc quên ngàn nỗi đau
Nuôi con Mẹ chẳng than sầu
Dù là đói rách không câu trách hờn
Thương con nào tính thiệt hơn
Mẹ ăn quả đắng, quả thơm con dùng
Mẹ nằm chỗ ướt quanh năm
Phần con chỗ ráo nghe lòng vẫn vui
Thâu đêm Mẹ chẳng nghỉ ngơi
Làm cơn gió mát cho đời con thơ
Trời lạnh Mẹ hát ầu ơ
Ôm con cho ấm, mắt mờ vì con
Mẹ con sú nước nhai cơm
Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê
Miếng ngon, miếng ngọt đem về
Mẹ con ăn khổ chẳng hề thở than
Chở che con được bình an
Nâng niu hơn ngọc hơn ngàn báu châu
Dù con Mẹ xấu đến đâu
Mù, câm, đếc, ngọng, vẫn cầu cho con
Bình an, mạnh khoẻ, mãi còn
Lòng Mẹ mãi mãi thương con trọn đời
Tuổi xuân Mẹ đã qua rồi
Vì con mà Mẹ hao rồi sắc hương
Áo quần xộc xệch nát tươm
Tóc tai búi lọn chẳng buồn thả ra
Má hồng Mẹ chẳng thiết tha
Đồ dơ con trẻ giặt mà chẳng than
Lớn lên xa xứ đi làm
Mẹ luôn thương nhớ, khóc than một mình
Sợ con trên bước đăng trình
Không người lo lắng thật tình cho con
Nghĩ mà lòng Mẹ héo hon
Mắt mờ chân chậm chờ con từng ngày
Vì con mà Mẹ chẳng nài
Thân cò lặn lội suốt ngày bôn ba
Bữa ăn vẫn khó kiếm ra
Cho con no dạ việc mà khó sao
Việc ác Mẹ lại đem vào
Nướng, kho sinh vật, nấu, xào con ăn
Tội thì Mẹ gánh vào thân
Vẫn cam nhận lấy để phần con vui
Cho con suốt cả cuộc đời
Nuôi con ăn học nên người nên thân
Lòng Mẹ như biển thái bình
Ân nặng như núi nghĩa tình mênh mông
Với tay hái nụ hoa hồng
Cài lên ngực áo mà dòng lệ rơi
Con trẻ hạnh phúc Mẹ ơi
Vu Lan có Mẹ, rạng ngời lòng con
Vần thơ tặng Mẹ mãi còn
Như lòng con trẻ sắt son ơn Người
Mùa vu Lan đã đến rồi
Nguyện cầu cho Mẹ sống đời bình an.

******

(TPHCM, ngày 07/07/2010)
(Viết tặng Mẹ của con nhân mùa Vu Lan PL 2554 – DL 2010)
Tác giả : Thanh Hương – PD : Liên Hương

166590 top -
Gia đình Phật tử VDT
1 ... 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 ... 14


PayPal về email:
thuquy@vietditru.com


Chi phiếu gửi về:
Hai Nguyen
23 South 24th Street
San Jose, CA 95116



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM


Ý kiến về Quỹ VietDitru

ImageRomantic Piano Radio

hello


none