Lưu ý: Tất cả vấn đề về tôn giáo đều nhậy cảm, không khéo xử sự dễ sinh ra chuyện đáng tiếc. VietDitru thiết kế mục riêng để thành viên dễ dàng sinh hoạt. Thành viên phải để ý tế nhị trong cách hành xử.
Chào các bạn,
Tôi xin được chia sẽ với các bạn những bài giảng cho ngày chủ nhật 11/7/2010. Đây là file dạng word. Tôi không biết cách post vào diễn đàn. Do vậy, tôi phải copy và paste theo dạng này, mong các bạn thông cảm.
Sau đây là toàn bộ bài giảng, mời các bạn suy ngẫm.
--------------------------------------------------------------------
“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”. (Thánh vịnh 119, câu 105)
NHỚ MANG THEO TRÁI TIM
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
Trường sinh bất tử, muốn được hạnh phúc vĩnh viễn, muốn được sống đời đời, đó là mơ ước muôn đời của mọi người. Hôm nay, một thày thông luật nói lên mơ ước đó khi ông hỏi Chúa:
- Làm cách nào để được hưởng sự sống đời đời.
Để trả lời ông, Chúa Giêsu kể câu chuyện, một câu chuyện bình thường xảy ra hằng ngày:
"Một người đi đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị cướp trấn lột, đánh nhừ tử, dở sống dở chết nằm rên rỉ bên vệ đường. Thày tư tế đi ngang thấy thế tránh qua bên kia đường mà đi. Thày Lêvi cũng thế. Nhưng một người xứ Samaria, một người ngoại đạo, đã chạnh lòng thương, dừng lại băng bó cho nạn nhân. Chưa hết, ông còn chở nạn nhân đến quán trọ. Hơn thế nữa, ông gửi tiền để nhờ chủ quán chăm sóc nạn nhân cho đến khi bình phục."
Qua câu chuyện người xứ Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.
Đường Giêrikhô tượng trưng cho con đường về Nước Trời. Đó là con đường gập ghềnh khó đi. Đó là con đường nguy hiểm vì có trộm cướp rình rập. Đó là con đường thử thách. Để vượt qua thử thách, vũ khí duy nhất hữu ích là trái tim. Trái tim chiến thắng có những phẩm chất như sau:
Đó phải là một trái tim nhạy bén.
Người xứ Samaria nhân hậu có một trái tim nhạy bén. Dù đang bận việc riêng, dù vó ngựa phi nhanh, ông vẫn nhìn thấy người bị nạn nằm bên vệ đường. Dù tiếng gió vù vù xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp, ông vẫn nghe được tiếng rên rỉ rất yếu ớt của người bị nạn. Trong khi đó, thầy Tư Tế và Thầy Lêvi chỉ đi bộ lại không thấy, không nghe. Hay nói đúng hơn, các thầy có nghe, có thấy nhưng trái tim các thầy đóng kín, nên các thầy chẳng động lòng. Trái tim các thầy bị đóng kín vì những cánh cửa lề luật: Sợ đụng chạm vào máu, vào người bị thương, sẽ trở thành ô uế không được tới đền thờ dâng lễ vật. Người xứ Samaria không nghe bằng đôi tai, không nhìn bằng đôi mắt, nhưng nghe và nhìn bằng trái tim. Trái tim nhạy bén có đôi tai thính lạ lùng. Có thể nghe rõ tiếng rên rỉ thì thầm tận đáy lòng. Trái tim nhạy bén có đôi mắt sáng lạ lùng. Có thể nhìn thấy cả những nỗi đau âm thầm trong tâm khảm.
Đó phải là một trái tim quan tâm.
Trái tim quan tâm đưa ta đến gần gũi anh em. Trái tim quan tâm biết làm tất cả để phục vụ anh em. Các thầy Tư Tế và Lêvi không có trái tim quan tâm nên khi thấy người bị nạn đã tránh sang bên kia đường mà đi. Người xứ Samaria có một trái tim quan tâm nên ông lập tức đến gần nạn nhân. Vì có trái tim quan tâm nên ông có thể làm tất cả để giúp nạn nhân. Vì quan tâm nên ông đã mang sẵn bên mình nào là dầu, nào là băng vải. Chẳng học nghề thuốc mà ông săn sóc vết thương một cách thành thạo. Chẳng luyện tập mà ông đã lấy dầu xoa bóp rất nhanh, băng bó rất khéo. Chẳng có kỹ thuật mà ông biết cách đưa được bệnh nhân lên lưng ngựa. Ông đã làm tất cả theo sự hướng dẫn của trái tim. Với trái tim, ông đã làm tất cả với sự chuẩn xác và nhất là với nhiệt tình để cứu nạn nhân.
Đó phải là một trái tim chung thuỷ.
Trái tim chung thuỷ không làm việc nửa vời, nhưng làm đến nơi đến chốn. Trái tim chung thuỷ không mỏi mệt buông xuôi, nhưng theo dõi giúp đỡ cho đến tận cùng. Người xứ Samaria bận rộn công việc, nhưng vẫn lo lắng cho nạn nhân đầy đủ, gửi gắm chủ quán tiếp tục thuốc thang. Và khi xong việc ông sẽ trở lại thăm hỏi để tiếp tục săn sóc cho đến khi khỏi hẳn. Ông làm tất cả với một trái tim chung thuỷ vẹn toàn.
*
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy ta hiểu rằng: đường đến sự sống đời đời là con đường mọi người vẫn đang đi. Nhưng chỉ người đi với trái tim mới mong đến đích. Thầy Tư Tế và Thầy Lêvi đã rẽ sang hướng khác vì các thầy không mang theo trái tim. Người xứ Samaria đã đi đến nơi vì ông đi đường với trái tim nhân hậu, trái tim rất nhạy bén, rất quan tâm và rất chung thuỷ. Với trái tim ấy, ông đã yêu người thân cận như chính mình ông. Với trái tim ấy, ông đã mở đường đi đến sự sống đời đời.
Chúa Giêsu dạy tôi bắt chước người xứ Samaria nhân hậu. Hãy lên đường với trái tim. Hãy lắng nghe với trái tim. Hãy hành động với trái tim. Hãy đi trên đường của trái tim. Hãy để trái tim tham dự vào mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi suy nghĩ. Hãy mang theo trái tim theo trên khắp mọi nẻo đường. Con đường đi với trái tim chính là con đường dẫn đến sự sống đời đời.
Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.
*
Kiểm điểm đời sống
1. Theo ý bạn đâu là những dấu hiệu cho thấy một tình yêu đích thực và đáng tin?
2. Mỗi khi gặp một người cần giúp đỡ, bạn có hăng hái ra tay giúp ngay hay còn chần chờ, viện lý do để thoái thác?
3. Sau khi nghe dụ ngôn “Người xứ Samaria nhân hậu”, bạn có quyết tâm gì?
4. Mang theo trái tim nghĩa là gì?
--------------------------------------
ÔNG HOÀNG HẠNH PHÚC
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: ở một thành phố nọ, có một Ông Hoàng sống một cuộc đời rất hạnh phúc. Vì thế khi ông chết, người ta đã làm một bức tượng của ông, đặt trên một cái bệ cao giữa thành phố và đặt tên là Ông Hoàng Hạnh Phúc, như là biểu tượng may mắn sẽ mang hạnh phúc đến cho mọi người dân trong thành.
Một buổi chiều đầu mùa đông, một con chim én đến đậu dưới chân pho tượng. Bỗng một giọt nước rơi xuống đầu nó. Nó nhìn lên và ngạc nhiên vì đó là giọt nước mắt của Ông Hoàng. Ông đang khóc. Những giọt nước mắt cứ lăn dài trên đôi má của ông. Chim én ngạc nhiên và hỏi rằng:
- Tại sao ông khóc? Ông là Ông Hoàng Hạnh Phúc kia mà!
Ông hoàng trả lời:
- Từ khi đứng trên cao nhìn thấy cảnh sống của dân thành, ta đau lòng quá và không còn hạnh phúc nữa. Ta muốn đi giúp họ lắm, nhưng đôi chân ta bị chôn chặt ở cái bệ này nên không thể nào đi được. Bạn có thể giúp ta không?
- Không được, tôi phải bay đi cho kịp đàn đang bay về phương bắc.
- Hãy làm ơn giúp ta đêm nay đi.
Chim én ngập ngừng giây lát rồi nói:
- Thôi được. Bây giờ ông muốn tôi làm gì?
- Trong một túp lều đàng kia có một người mẹ đang khóc vì con bà bị bệnh mà bà không có tiền gọi bác sĩ. Bạn hãy lấy viên ngọc ở chuôi kiếm của ta đem cho bà ấy.
Chim én dùng mỏ lấy viên ngọc ra và bay đến cho bà mẹ nghèo. Nhờ có tiền, bà đã lo cho con bà khỏi bệnh.
Hôm sau Ông Hoàng lại xin chim én nán lại một đêm nữa để mang viên ngọc khác đến cho một người nghèo khác. Rồi hôm sau nữa đến giúp một người nghèo khác nữa. Cứ thế hết ngày này đến ngày khác, con chim én lấy các thứ trang sức của Ông Hoàng đem cho người nghèo. Cuối cùng trên mình Ông Hoàng không còn gì quý giá nữa. Khi đó đã là giữa mùa đông, trời đã lạnh rất nhiều.
Một buổi sáng, người ta thấy xác con chim én đã chết cóng dưới chân pho tượng Ông Hoàng trần trụi. Phía dưới thành phố, mọi người đều hạnh phúc. Họ có biết đâu hạnh phúc của họ là nhờ sự hy sinh của Ông Hoàng Hạnh Phúc và con chim én nhỏ bé kia.
*
Lời bàn:
Đôi khi trong cuộc sống chúng ta vẫn vô tâm như vậy. Nhiều người đã được sống hạnh phúc nhưng họ đâu biết rằng hạnh phúc của họ là nhờ sự chắt chiu từng hy sinh âm thầm của biết bao nhiêu người. Có thể đó là sự hy sinh không mệt mỏi của cha, của mẹ từng ngày vất vả trên nương đồng, hay trên công trường. Có thể đó là sự hy sinh nhịn nhục của những người thân chịu thiệt thòi để họ được hạnh phúc. Có thể đó là sự hy sinh nhường nhịn của bạn bè để họ được vui hơn trong cuộc sống. Thế mà, nhiều người vẫn tưởng rằng mình lớn lên không cần ai giúp đỡ. Lối suy nghĩ đó đã dẫn đến một đời sống ích kỷ, hẹp hòi, một lối sống dửng dưng đến xa lạ với đồng loại.
Thực vậy, ở trong cuộc đời này vẫn còn đó biết bao người chắt chiu từng hạt gạo, gom góp từng miếng vải để giúp kẻ cơ hàn. Cuộc đời vẫn còn đó biết bao người hy sinh cả cuộc sống mình để phục vụ các bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân nan y. Vẫn còn đó cả hàng triệu người đang đổ mồ hôi vật vã trên công trường, trên nương đồng để làm ra của cải và sản phẩm cho hàng tỉ người trên trái đất hưởng dùng. Vâng, cuộc đời vẫn còn đó biết bao người biết hy sinh vì tha nhân, biết kiến tạo niềm vui trong những giọt mồ hôi lao nhọc để phục vụ tha nhân. Thế nhưng, giòng đời vẫn còn đó những trái tim khô cằn, những tâm hồn lạnh nhạt đến dửng dưng với nỗi đau của đồng loại. Họ đâu biết rằng cuộc đời của họ đang bị cuốn trôi theo một giòng chảy của trần đời. Họ được đón nhận thì cũng phải biết trao ban. Vì chẳng ai có thể giữ mãi cho mình được điều gì mãi mãi. Tất cả những gì mình có rồi một mai cũng bị cuốn trôi theo thời gian.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết dừng lại để giúp đỡ những ai đang cần đến chúng ta, hãy biết chia sẻ với những khó khăn của tha nhân. Hình ảnh Thầy Tư tế và Lê vi đã bỏ lại đằng sau tiếng kêu cứu của đồng lại diễn tả một thế giới mà con người luôn hối hả bận rộn với giòng chảy cuộc đời. Họ bị giòng đời cuốn trôi đến nỗi đã quên rằng, cuộc sống đích thực là cuộc sống còn có khả năng chia sẻ với tha nhân. Một cuộc đời có ý nghĩa là cuộc đời biết dùng thời giờ để sống với tha nhân trong yêu thương và phục vụ. Và một cuộc đời đã mất khi không còn khả năng để giúp đỡ anh em. Ông Hoàng hạnh phúc đã không còn hạnh phúc khi ông nhận ra mình không còn khả năng để giúp đỡ đồng loại. Ông cảm thấy bất hạnh khi mình không còn khả năng để xoa dịu nỗi đau của đồng loại. Ngược lại, người Samaria nhân hậu, ông đã tìm được niềm vui của cuộc đời phục vụ. Ông đã dừng lại để xoa dịu nỗi đau của kẻ bất hạnh. Cuộc đời ông hạnh phúc biết bao khi ông băng bó nỗi đau của đồng loại. Khi ánh mắt của kẻ chịu ơn đang nhìn ông một cách trìu mến thân thương. Niềm vui của ông càng được nhân lên khi người mà ông giúp đỡ đã coi ông như anh em. Từ một người xa lạ nay trở thành kẻ thân thích. Ông đã biết dùng của cải đời này để mua bạn hữu đời này và cả đời sau. Đó chính là mẫu người mà Chúa đang mời gọi chúng ta hãy làm theo như vậy.
Ước gì trong năm thánh với chủ đề Giáo hội mầu nhiệp, hiệp thông và sứ vụ sẽ là lời nhắc nhở chúng ta về Giáo hội của Chúa, do Chúa sáng lập và hiện diện thì mỗi ky-tô hữu cần phải hiệp nhất với nhau trong Chúa, cần nhìn nhận nhau là anh em và hãy biết sống đời kytô hữu bằng sự dấn thân để phục vụ tha nhân trong yêu thương chân thành. Nguyện xin Chúa là Đấng đã hết lòng yêu thương và phục vụ con người cho đến nỗi bằng lòng chịu chết vì chúng ta, giúp cho chúng ta cũng biết sống yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng ta. Amen
----------------------------------
AI LÀ ANH EM CỦA TÔI
Lm. Anphong Trần Đức Phương
Chúa Nhật hôm nay nói đến luật Bác Ái là kính mến Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân, đặc biệt trong việc giúp đỡ những người lâm cảnh khó khăn.
Bài Đọc I
(Đệ Nhị Luật 30:10-14)
Lề luật của Chúa đã được ghi khắc vào lòng chúng ta (Lương Tâm) để hướng dẫn chúng ta sống cho xứng đáng những con người đã được Chúa dựng nên theo hình ảnh Chúa, chúng ta cần đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày.
Bài đọc II
(Côlôsê 1:15-20)
Chúa Giêsu cũng chính là Thiên Chúa thật, Ngài mặc lấy thân xác con người, đổ máu ra trên Thánh Giá để cứu chuộc nhân loại và trở nên “trưởng tử mọi loài thọ sinh và là Đầu Giáo Hội.”
Bài Phúc Âm
(Luca 10: 25-37)
Chúng ta phải thực hành Đức Bác Ái để được sống đời đời. Đó là yêu mến Chúa hết lòng và yêu thương phục vụ tha nhân. Người Samaritano tốt lành là hình ảnh của những người biết thương cảm và hy sinh giúp đỡ mọi người, nhất là những người gặp hoạn nạn, dù người đó là ai.
Mỗi ngày khi chúng ta đọc Kinh ‘Mười Điều Răn Đức Chúa Trời’, chúng ta nên để ý đến lời cuối cùng “Mười điều răn Chúa tóm về hai điều này: trước hết kính mến Một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau là yêu thương tha nhân như chính mình .” Nếu chúng ta sống được hai điều căn bản này là chúng ta đã chu toàn được mọi lề luật của Chúa và các giới răn của Giáo Hội.
Luôn biết kính mến Chúa và thương yêu người khác như chính mình, chúng ta sẽ dễ dàng chu toàn các bổn phận thờ phượng Chúa, chúng ta sẽ xa tránh các dịp tội để không phạm tội làm mất lòng Chúa và xúc phạm đến nhau (những tội như tham lam tiền bạc, lỗi phép công bằng, làm chứng gian hại người khác, lộng ngôn, nói hành nói xấu, ham thú vui xác thịt, luyến ái tự do, li dị, phá thai…). Mọi tội lỗi đều xúc phạm đến Thánh Danh Chúa, và làm hoen ố hình ảnh của Chúa mà chúng ta mang trong tâm hồn khi chúng ta đã được thanh luyện qua Bí Tích Thánh Tẩy.
Hơn nữa, giữ Lề Luật Bác Ái không phải chỉ là lo xa tránh tội lỗi mà tích cực hơn, còn phải lo chu toàn các bổn phận của người tín hữu: ngoài bổn phận thờ phượng Chúa, chúng ta có bổn phận đối với Ông Bà Cha Mẹ, đó là điều răn thứ bốn: Phụng dưỡng các Ngài khi còn sống, nhất là khi các Ngài đã già yêu, bịnh tật. Hằng nhớ đến và cầu nguyện cho các vị đã qua đời.
Luật Bác Ái cũng dạy chúng ta phải duy trì tình yêu trong gia đình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái; điều này cũng đòi buộc chúng ta phải hy sinh nhiều lắm để có thể chịu đựng lẫn nhau, tha thứ và nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
Ngoài gia đình ruột thịt, chúng ta còn sống trong gia đình nhân loại, mà mọi người đều là con cái Chúa và anh em với nhau “Tứ Hải Giai Huynh Đệ.” “Mọi người đều là anh em của tôi” trong gia đình nhân loại. Thực hành được đìều đó, chúng ta sẽ không còn xét đoán, kỳ thị chủng tộc, tiếng nói, mầu da…; nhưng biết chấp nhận mọi dị biệt để yêu thương nhau như anh em, để xây dựng hòa bình, thay vì gây chiến tranh, chém giết lẫn nhau. Người Samaritano tốt lành đã tận tâm giúp người bị kẻ cướp hành hung, ông đã không phân biệt, không xem xét người đó là ai, chủng tộc nào; nhưng thấy một người hoạn nạn cần giúp đỡ là ông hết lòng giúp đỡ không sợ bị liên lụy, không sợ mất thời giờ, tiền của. Đó là điều Chúa Giêsu đặc biệt muốn nhấn mạnh trong Dụ Ngôn trong Bài Phúc Âm hôm nay. Chính Chúa Giêsu đã thực hành điều đó, Ngài đã yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi, đã hy sinh xuống thế làm người, đã chịu chết để cứu chuộc mọi người thuộc mọi ‘chủng tộc và ngôn ngữ’, băng bó mọi vết thương gây ra do tội lỗi và đưa chúng ta vào “Quán Trọ” là gia đình Giáo Hội để chữa lành và đưa chúng ta về quê hương thật Nước Trời.
-------------------------------------------------------
CHIÊM NGẮM LÀM SAO, YÊU LÀM VẬY
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB
Vị thông luật, một người Do Thái chính hiệu vẫn thường suy niệm về luật Cựu ước, thừa hiểu rằng: yêu người là một luật phải giữ như một cam kết với Gia-vê. Nó chính là sự công chính hay thánh thiện có sức mang lại sự sống đời đời. Yêu người được hiểu là yêu người thân cận, còn kẻ thù thì đương nhiên phải ghét bỏ (xem Đnl 19, 18-21). Và đương nhiên, người thân cận phải là người có đi có lại với mình, cũng như Thiên Chúa Gia-vê có đi có lại với dân riêng của Ngài. Quan niệm của ông về Thiên Chúa Gia-vê biện minh cho khái niệm ‘yêu đồng loại và ghét kẻ thù’ của ông.
Đức Giê-su cũng đặt ‘yêu người’ thành ‘luật’ nền tảng của giao ước mới. Yêu người cũng vẫn là yêu người thân cận, yêu đồng loại; tuy nhiên nội dung của hạn từ đã đổi mới hoàn toàn.
Và nội dung này thay đổi, đâu phải chỉ vì một câu chuyện dụ ngôn. Đối với Ki-tô hữu, dụ ngôn ‘người Sa-ma-ri tốt lành’ luôn đưa họ tới việc chiêm ngắm một Thiên Chúa yêu thương và cứu vớt, chiêm ngắm một Giê-su Ki-tô hiến mình trên thập giá. Nội dung ‘yêu người thân cận’ của Ki-tô hữu sẽ thay đổi hoàn toàn, tùy thuộc vào sự chiêm ngắm này.
Thiên Chúa mà Ki-tô hữu ký kết giao ước, không còn là một Thiên Chúa chỉ yêu kẻ lành thánh và ghét bỏ kẻ tội lỗi, ân thưởng người lành và trừng phạt người gian ác, như quan niệm về Gia-vê của Cựu ước. Khi gặp thấy một người sa ngã, Người đâu có ‘tránh qua bên kia mà đi’ như các thày tư tế và Lê-vi. Thậm chí Người đã từng so sánh mình với thầy thuốc đến vì người bệnh, chứ đâu phải vì người mạnh khỏe, với người mục tử, bỏ tất cả chỉ để đi tìm con chiên lạc. Người đã không xa tránh người bị phong cùi, nhưng đã chạm tới và chữa lành; không xua đuổi, nhưng để cho người đàn bà tội lỗi ôm hôn…
Ki-tô hữu phải biết mình đã ký kết giao ước với một Thiên Chúa như thế. Mà làm sao họ không biết được điều này, khi mà ngay từ đầu, họ đã nhận được một phép rửa thứ tha, và liên tục trong đời Ki-tô hữu, họ nhận đi lãnh lại bí tích tha thứ với lòng thống hối? Đối với họ, hình ảnh người Sa-ma-ri tốt lành là còn quá mờ nhạt, so với những gì Giê-su đã thực hiện cho họ.
Ấy thế mà có điều gì không ổn! Nếu tôi thường xuyên chiêm ngắm (chưa nói tới kết hợp thân mật) một Giê-su Thiên Chúa như thế, nếu tôi liên tục làm dấu thánh giá và cử hành hiến tế thập giá… thì tại sao yêu người thân cận, ngay trong quan điểm của tôi, vẫn chưa suy chuyển gì hết? Tôi đã chẳng vẫn cứ đòi người ta yêu mình trước, rồi mình yêu lại sau… Yêu người của tôi còn quá tính toán hơn thua… và chẳng có mấy nét tự hiến (cho dầu tôi rất thường tự mãn áp dụng hạn từ đó cho mình).
“Ông hãy đi, và cũng làm như vậy.”
Ồi, nếu tôi đã biết chiêm ngắm nhiều hơn nữa một Thiên Chúa “đã thực thi lòng thương xót đối với…” chính tôi; một Thiên Chúa đã coi tôi là một cận thân, ngay cả khi tôi thù hằn với Ngài, đã “chạnh lòng thương… lại gần, lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho tôi, băng bó lại… rồi vực lên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Tôi nghĩ toàn bộ chương trình đời Ki-tô hữu chỉ hệ tại: ‘chiêm ngắm lòng thương xót Chúa dành cho mình… và ra đi… cũng làm như vậy’.
*
Lời nguyện:
Lạy Chúa, để xây dựng và củng cố niềm tin Ki-tô hữu của con. Con sẽ không xin Chúa giúp con một điều gì, ngoài việc biết chiêm ngắm tình yêu thương xót Chúa biểu hiện nơi thập giá, cách riêng, qua việc cử hành sinh động mầu nhiệm tự hiến Chúa dành cho chính con; để càng chiêm ngưỡng Chúa, con càng biết yêu, và thực thi tình yêu tha nhân cách chân thực. Amen
-------------------------------
YÊU THƯƠNG
Là
CỐT TUỶ CỦA LUẬT THIÊN CHÚA
(JKN)
Câu hỏi gợi ý:
1. Yêu Chúa và yêu người, cái nào quan trọng hơn? Đặt vấn đề như thế có đúng đắn không? Có thể tách hai tình yêu ấy thành biệt lập với nhau không?
2. Tinh thần yêu thương của Đức Giêsu khác với tinh thần của Cựu Ước thế nào? Có gì mới mẻ hơn so với Cựu Ước?
3. Xét câu hỏi của Đức Giêsu: «Trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?», bạn nghĩ gì về về câu hỏi ấy? Tại sao lại «ai tỏ ra là người thân cận», chứ không nói «ai là người thân cận»?
Suy tư gợi ý:
1. Yêu thương là cốt tuỷ của Luật Thiên Chúa
Lề luật vốn có rất nhiều điều luật, mỗi điều luật lại có một số khoản luật, làm sao giữ luật cho trọn vẹn để trở nên công chính? Muốn thế, phải nắm được cốt tuỷ của lề luật. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy cốt tuỷ của lề luật là lòng yêu thương. Theo Cựu Ước – được thầy thông luật trưng dẫn trong bài Tin Mừng hôm nay – thì có hai đối tượng của lòng yêu thương: một là Thiên Chúa, hai là người thân cận. Nhưng trong Tân Ước, đặc biệt trong các thư của Phaolô và Gioan, thì hai đối tượng ấy được tổng hợp lại thành một thực tại duy nhất có hai mặt, tương tự như một tờ giấy duy nhất có hai trang gắn liền nhau không thể tách rời. Yêu Chúa và yêu người là hai mặt của một tình yêu duy nhất. Do đó, yêu Chúa đích thực tất nhiên phải yêu người, «ai nói mình yêu Chúa mà không yêu người là kẻ nói dối» (1 Ga 4, 20). Thánh Phaolô tóm cả lề luật vào một mối duy nhất là yêu người: «Tất cả lề luật được tóm gọn trong một điều này: Hãy yêu người lân cận như chính mình» (Gl 5, 14), vì yêu người đích thực thì đã bao hàm yêu Chúa trong đó rồi. Nói khác đi, yêu người chính là yêu Chúa, miễn sao tình yêu đó là đích thực, nghĩa là vô vị lợi: yêu người, hy sinh cho người không vì một lợi lộc nào cả, thậm chí không phải để được Thiên Chúa thưởng. Nếu yêu người là để được Thiên Chúa thưởng mình, hay vì một lợi lộc khác của mình thì suy cho cùng hoá ra đó là mình tự yêu bản thân mình chứ đâu phải mình yêu người. Yêu kiểu ấy là một hình thức vị kỷ, chứ đâu phải là tình yêu!
2. Yêu thương là giữ trọn lề luật (x. Gl 6,2)
Chúng ta đang sống thời Tân Ước, vì thế chúng ta không nên sống theo tinh thần của Cựu Ước. Thời Cựu Ước, trình độ tâm linh của con người còn sơ khai, thấp kém, nên tiêu chuẩn để nên công chính vào thời đó là sống sao cho đúng với lề luật. Càng giữ đúng luật bao nhiêu thì càng công chính bấy nhiêu. Vì thế, những người Pharisiêu là những người hoàn chỉnh nhất theo tiêu chuẩn này: họ cố giữ luật sao cho đúng từng chi tiết, từng dấu phảy một. Tuy họ giữ đúng lề luật tôn giáo từng ly từng tý, đến nỗi có thể nói rằng khó có ai giữ lề luật chi ly hơn họ, nhưng Đức Giêsu đã nhận ra rằng trong lòng họ không có tình yêu, trái lại chỉ có lòng ích kỷ. Nếu họ có giúp đỡ ai, hy sinh cho ai, thì ý hướng khiến họ làm điều ấy là vì lề luật khuyên hay buộc như vậy, vì họ nghĩ: có làm như vậy thì mới là người công chính, và mới được Thiên Chúa ân thưởng. Họ giúp đỡ, hy sinh cho người khác rất nhiều, mà lòng họ có thể chẳng yêu thương người ấy bao nhiêu. Họ làm mọi sự vì lề luật đòi hỏi, chứ không phải tình yêu đòi hỏi.
Tới thời Đức Giêsu, Ngài thấy Dân Chúa đã sống trong trình độ tâm linh ấy cả ngàn năm rồi, bây giờ Ngài phải nâng trình độ ấy lên. Tiêu chuẩn để nên công chính bây giờ phải được nâng cao hơn: không nên làm vì lề luật buộc, mà vì tình yêu đối với tha nhân đòi buộc và thúc đẩy. Vì thế, Ngài nói: «Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời» (Mt 5,20). Ý của Ngài không phải muốn chúng ta giữ lề luật nhiệm nhặt hơn người Pharisiêu, vì chẳng mấy ai giữ luật tài hơn họ. Ngài muốn chúng ta công chính hơn họ ở chỗ có tình yêu bên trong, và làm mọi sự vì yêu thương chứ không phải vì lề luật buộc phải làm như thế. Điều đó không có nghĩa là Ngài đả phá lề luật, mà trái lại là làm cho lề luật hay việc giữ luật nên hoàn chỉnh hơn: giữ luật vì tình yêu, đưa tình yêu vào trong lề luật. Một khi đã có tình yêu đích thực, thì như thánh Âu-Tinh nói: «Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm». Tình yêu sẽ cho ta biết ta phải làm gì. Theo thánh Phaolô thì lề luật không phải được lập nên cho người có tình yêu, mà cho người không có tình yêu: «(9) Lề Luật có đó, không phải cho người công chính, mà là cho hạng người sống ngoài lề luật và bất phục tùng, vô luân và tội lỗi, phạm thánh phạm thượng, giết cha giết mẹ, sát nhân, (10) dâm dật, kê gian, buôn người, nói dối, bội thề, và những kẻ sống ngược với giáo lý lành mạnh» (1 Tm 1,9-10).
Nếu không có tình yêu, thì việc làm theo luật có tốt đẹp đến đâu cũng vô giá trị. Thánh Phaolô nói rất rõ: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1 Cr 13,3). Đem hết gia tài ra bố thí cho người nghèo là một hành động có vẻ đầy yêu thương, nhưng nó vẫn có thể phát xuất từ một động lực hoàn toàn vị kỷ, chẳng có chút tình thương nào: bố thí để mọi người khen, nể phục, để được mang tiếng là thương người, là đạo đức.
3. Hai thái độ giữ luật trong dụ ngôn người Samari tốt lành
Trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy có hai thái độ giữ luật:
– Một là của thầy tư tế và thầy Lêvi, tượng trưng cho tinh thần vị luật của Cựu Ước. Theo họ, trong lề luật, không có khoản nào qui định cụ thể phải cứu giúp người trong hoàn cảnh như thế này cả. Trái lại, có những khoản qui định cụ thể về sự sạch sẽ: «(Tư tế lớn nhất trong hàng anh em) thì không được đến gần người chết, và không được làm cho mình ra ô uế, dù vì cha hay vì mẹ mình» (Lv 21,11). Như vậy, nếu mình không cứu người ấy thì mình chẳng lỗi luật, còn nếu đụng đến người ấy mà lỡ người ấy chết trên tay mình, thì mình ra ô uế, không được tế lễ hay ăn bánh thánh. Thái độ lãnh đạm của họ đối với người bị nạn quả là có lý vì họ nghĩ: điều quan trọng là làm theo Lề Luật, chứ không phải là làm theo sự đòi hỏi của tình yêu. Vả lại, Lề Luật nói: «Phải yêu người thân cận như chính mình» (Lv 19,18), chứ phải yêu bất cứ người nào đâu! Nếu có tình yêu thì tình yêu ấy chỉ dành cho người lân cận, nghĩa là sống gần mình mà thôi.
– Hai là của người Samari, tượng trưng cho những người không sống theo Lề Luật: trong họ, những người tốt thì sống theo sự đòi hỏi của lương tâm hơn là của lề luật thành văn. Do đó, thấy người bị nạn thì người Samari tốt lành này động lòng thương, lương tâm và tình thương đồng loại đã thúc đẩy anh ta cứu giúp người bị nạn đến nơi đến chốn, bất chấp nạn nhân là người Do Thái, thuộc dòng tộc có hiềm khích với dòng tộc anh. Cách hành xử đầy yêu thương của anh mới làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Đức Giêsu đưa ra dụ ngôn này để trả lời cho câu hỏi của anh chàng thông luật: «Nhưng ai là người thân cận của tôi?». Theo câu hỏi mà Đức Giêsu đưa ra sau dụ ngôn: «Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?», thì vấn đề không phải là ai là người thân cận để mình yêu thương, mà là phải tỏ ra mình là người thân cận với mọi người, bằng cung cách xử sự đầy yêu thương với họ. Kinh nghiệm tôi cho thấy: khi có ai tỏ tình yêu thương tôi bằng những hy sinh cụ thể, dù người ấy là người tôi chưa hề quen biết hay ở xa tôi vạn dặm, thì hành động yêu thương ấy làm cho người ấy và tôi trở nên gần gũi nhau, thân mật với nhau. Tình yêu thương và sự hy sinh ấy càng lớn thì sự gần gũi ấy càng tăng lên, thậm chí đi đến chỗ coi nhau như ruột thịt. Trái lại, dù gần gũi, dù là họ hàng, máu mủ, ruột thịt mà không yêu thương nhau, thì lại trở nên như kẻ xa lạ. Như vậy, theo tinh thần của Đức Giêsu, chúng ta phải biến tha nhân thành ruột thịt, thành gần gũi với mình bằng cách cư xử đầy yêu thương với họ, hơn là chọn lấy những người nào là ruột thịt hay gần gũi với mình để yêu thương.
*
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con một tình yêu đích thực, vị tha, làm động lực thúc đẩy cho mọi hành động của con. Cho con biết thật sự quên mình được thể hiện bằng những hy sinh cụ thể cho tha nhân, vì đó chính là dấu chứng của tình yêu đích thực mà con cần có để nên công chính.
------------------------------
AI LÀ ANH EM TÔI
Chúa Nhật 15TNC – (Lc 10. 25 – 37)
Một Luật sĩ nêu câu thắc mắc.
Phải làm chi để sống đời đời.
Trước là kính mến Chúa Trời.
Sau là thương hết mọi người anh em.
Lời Chúa dạy phải đem ứng dụng.
Đừng nói thương mà bụng dao găm.
Hãy nhớ câu chuyện Phúc Âm:
Có người cướp đánh nằm lăn giữa đường.
Thầy Tư tế coi thường lẩn tránh.
Thầy Trợ tế cũng lánh cho xa.
Còn người Samaria.
Thuốc thang cứu chữa mặn mà trông nom.
Chúa phán hỏi ba con người ấy.
Ai là người thương mến anh em.
Chính người băng bó thuốc men.
Thực thi bác ái chẳng còn hồ nghi...
Matthêu Vũ.
--------------------
HOA SAMARI
Chúa Nhật 15TNC – (Lc 10, 25 – 37)
Hoa thơm tươi nở giữa bùn đen,
Lan tỏa nhẹ nhàng tựa đóa sen.
Nhân thế phong trần nhân thế tốt,
Tình trời cao cả tình trời khen.
Hiệp thông, bác ái nên mầu nhiệm,
Chia rẽ, bất công thấy thấp hèn.
Hoan lộ Nước Trời vui tiến bước,
Gập ghềnh, khúc khuỷu quyết đua chen.
08/07/2010
Hạt Nắng
-------------------------------
NGƯỜI TÌNH SAMARI
Chúa Nhật 15TNC – (Lc 10, 25 – 37)
Trên đường về đêm đen,
Lang thang dưới ánh đèn.
Xót xa tình nhân thế,
Nhục nhằn kiếp đua chen.
Trên đường về đêm nay,
Tan tác kiếp đọa đày.
Thân tàn, tim nhức nhối,
Tình đời như mây bay.
Chúa, Người Tình muôn thưở,
Đã đến bên con, dìu con trở về.
Chúa, Người Tình Samari,
Băng bó vết thương, tim lòng nhức nhối.
Chúa, Ngài là Tình Yêu,
Dẫn lối con qua, tăm tối ê chề,
Chúa, Ngài là Ánh Sáng,
Thung lũng cuộc đời, Ngài dìu dắt con qua.
Trên hành trình hôm nay,
Con quyết hăng say, theo bước chân Ngài.
Đi vào lòng thế giới,
Chia sớt áo cơm, cho người nghèo khó.
Mọi người là anh em,
Bừng cháy yêu thương, bác ái quên mình.
Sống phục vụ tha nhân,
Như Chúa quên mình, Ngài chịu chết vì con.
08/07/2010
M. Madalena Hoa Ngâu
---------------------------------
HÀNH TRÌNH TÌNH YÊU
Chúa Nhật 15TNC – ((Lc 10, 25 – 37)
Đường Phúc Thật, Chúa gọi con tiến bước,
Đường gập ghềnh, đường hiểm trở, gian nan.
Đường chông chênh, đường thử thách trái tim vàng,
Lòng quảng đại, yêu thương người cùng khổ.
Biết lắng nghe tiếng lòng người thổ lộ,
Tiếng thở than giữa giòng chảy cuộc đời.
Tiếng thì thầm, nức nở giữa biển khơi,
Tiếng rên xiết, tận đáy lòng người bất hạnh.
Bằng con tim, bằng tình yêu lành mạnh,
Bằng đôi tay, chăm sóc những vết thương.
Dầu Tình Yêu, xoa bóp nỗi đoạn trường,
Dầu Nhân Ái, quan tâm người hoạn nạn.
Trái tim yêu không nửa vời, nứt rạn,
Yêu đến tận cùng, không bỏ cuộc buông xuôi.
Yêu nhiệt tâm, tha thiết, thắm tình người,
Trái tim phục vụ, chân thành luôn bừng cháy.
Đường về quê Trời,
Hiến dâng niềm trông cậy,
Tựa vào trái tim Chúa nhân từ,
Con can đảm bước đi.
09/07/2010
Bâng Khuâng Chiều Tím
--------------------------
NÉT ĐẸP SAMARI
Chúa Nhật XV TNNC – (Lc 10, 25 – 37)
Thật đẹp thay bông hoa lòng hé nở,
Giữa đời thường, giữa cuộc sống bon chen.
Giữa khó khăn, giữa hoàn cảnh thấp hèn,
Lòng hào hiệp vẫn bừng lên toả sáng.
Cao quý thay, tình người luôn xán lạn,
Hoa yêu thương không đợi phải đúng mùa.
Hoa ân tình bất chấp cả nắng mưa,
Vẫn toả ngát hương thơm, dù sương gió.
Chúa dạy con, dù sống trong gian khó,
Luôn nêu cao bài học của tình thương.
Biết quan tâm kẻ gặp nạn bên đường,
Tình phục vụ, hy sinh, lòng quảng đại.
Người Sa-ma-ri, một tấm lòng nhân ái,
Nêu cao gương hào khí, đức yêu thương.
Chẳng ngại ngần, chẳng lo sợ vấn vương,
Chọn đức ái, vượt trên bao lề luật.
Kính lạy Chúa, Ngài chính nguồn sự thật,
Xin giúp con can đảm sống trung kiên.
Giữa đường đời còn đau khổ triền miên,
Sống chia sẻ, xoá tan lòng thù hận.
Tình yêu Chúa làm hồn con phấn chấn,
Sống thực thi Lời Chúa, biết hy sinh.
Giữa anh em thân cận, biết quên mình,
Sống tình Chúa, tình người, vui sứ mạng.
Lửa trong tim, Chúa trao luôn bừng sáng,
Mời gọi con mạnh mẽ bước vào đời.
Cùng với Ngài đi rảo khắp mọi nơi,
Sống hiệp nhất, cảm thông, tình liên đới.
Bước theo Chúa, tâm hồn con phơi phới,
Biết ưu tư trước nỗi khổ tha nhân.
Biết cho đi, biết chia sẻ, thông phần,
Không phân biệt màu da hay chủng tộc.
Bước vào đời, con không còn đơn độc,
Gặp gỡ người là gặp Chúa trong tim.
Vinh phúc thay, nguồn hạnh phúc con tìm,
Là yêu Chúa và yêu người nên một.
Nhờ ơn Chúa, hoa lòng con tươi tốt,
Biết hiến dâng hương thơm ngát cho đời.
Sống hoà mình, hoa thắm nở trên môi,
Mang nét đẹp Sa-ma-ri thời đại.
Hoa bất tử là hoa lòng nhân ái...
AP. Mặc Trầm Cung
Tôi xin được chia sẽ với các bạn những bài giảng cho ngày chủ nhật 11/7/2010. Đây là file dạng word. Tôi không biết cách post vào diễn đàn. Do vậy, tôi phải copy và paste theo dạng này, mong các bạn thông cảm.
Sau đây là toàn bộ bài giảng, mời các bạn suy ngẫm.
--------------------------------------------------------------------
“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”. (Thánh vịnh 119, câu 105)
NHỚ MANG THEO TRÁI TIM
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
Trường sinh bất tử, muốn được hạnh phúc vĩnh viễn, muốn được sống đời đời, đó là mơ ước muôn đời của mọi người. Hôm nay, một thày thông luật nói lên mơ ước đó khi ông hỏi Chúa:
- Làm cách nào để được hưởng sự sống đời đời.
Để trả lời ông, Chúa Giêsu kể câu chuyện, một câu chuyện bình thường xảy ra hằng ngày:
"Một người đi đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị cướp trấn lột, đánh nhừ tử, dở sống dở chết nằm rên rỉ bên vệ đường. Thày tư tế đi ngang thấy thế tránh qua bên kia đường mà đi. Thày Lêvi cũng thế. Nhưng một người xứ Samaria, một người ngoại đạo, đã chạnh lòng thương, dừng lại băng bó cho nạn nhân. Chưa hết, ông còn chở nạn nhân đến quán trọ. Hơn thế nữa, ông gửi tiền để nhờ chủ quán chăm sóc nạn nhân cho đến khi bình phục."
Qua câu chuyện người xứ Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.
Đường Giêrikhô tượng trưng cho con đường về Nước Trời. Đó là con đường gập ghềnh khó đi. Đó là con đường nguy hiểm vì có trộm cướp rình rập. Đó là con đường thử thách. Để vượt qua thử thách, vũ khí duy nhất hữu ích là trái tim. Trái tim chiến thắng có những phẩm chất như sau:
Đó phải là một trái tim nhạy bén.
Người xứ Samaria nhân hậu có một trái tim nhạy bén. Dù đang bận việc riêng, dù vó ngựa phi nhanh, ông vẫn nhìn thấy người bị nạn nằm bên vệ đường. Dù tiếng gió vù vù xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp, ông vẫn nghe được tiếng rên rỉ rất yếu ớt của người bị nạn. Trong khi đó, thầy Tư Tế và Thầy Lêvi chỉ đi bộ lại không thấy, không nghe. Hay nói đúng hơn, các thầy có nghe, có thấy nhưng trái tim các thầy đóng kín, nên các thầy chẳng động lòng. Trái tim các thầy bị đóng kín vì những cánh cửa lề luật: Sợ đụng chạm vào máu, vào người bị thương, sẽ trở thành ô uế không được tới đền thờ dâng lễ vật. Người xứ Samaria không nghe bằng đôi tai, không nhìn bằng đôi mắt, nhưng nghe và nhìn bằng trái tim. Trái tim nhạy bén có đôi tai thính lạ lùng. Có thể nghe rõ tiếng rên rỉ thì thầm tận đáy lòng. Trái tim nhạy bén có đôi mắt sáng lạ lùng. Có thể nhìn thấy cả những nỗi đau âm thầm trong tâm khảm.
Đó phải là một trái tim quan tâm.
Trái tim quan tâm đưa ta đến gần gũi anh em. Trái tim quan tâm biết làm tất cả để phục vụ anh em. Các thầy Tư Tế và Lêvi không có trái tim quan tâm nên khi thấy người bị nạn đã tránh sang bên kia đường mà đi. Người xứ Samaria có một trái tim quan tâm nên ông lập tức đến gần nạn nhân. Vì có trái tim quan tâm nên ông có thể làm tất cả để giúp nạn nhân. Vì quan tâm nên ông đã mang sẵn bên mình nào là dầu, nào là băng vải. Chẳng học nghề thuốc mà ông săn sóc vết thương một cách thành thạo. Chẳng luyện tập mà ông đã lấy dầu xoa bóp rất nhanh, băng bó rất khéo. Chẳng có kỹ thuật mà ông biết cách đưa được bệnh nhân lên lưng ngựa. Ông đã làm tất cả theo sự hướng dẫn của trái tim. Với trái tim, ông đã làm tất cả với sự chuẩn xác và nhất là với nhiệt tình để cứu nạn nhân.
Đó phải là một trái tim chung thuỷ.
Trái tim chung thuỷ không làm việc nửa vời, nhưng làm đến nơi đến chốn. Trái tim chung thuỷ không mỏi mệt buông xuôi, nhưng theo dõi giúp đỡ cho đến tận cùng. Người xứ Samaria bận rộn công việc, nhưng vẫn lo lắng cho nạn nhân đầy đủ, gửi gắm chủ quán tiếp tục thuốc thang. Và khi xong việc ông sẽ trở lại thăm hỏi để tiếp tục săn sóc cho đến khi khỏi hẳn. Ông làm tất cả với một trái tim chung thuỷ vẹn toàn.
*
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy ta hiểu rằng: đường đến sự sống đời đời là con đường mọi người vẫn đang đi. Nhưng chỉ người đi với trái tim mới mong đến đích. Thầy Tư Tế và Thầy Lêvi đã rẽ sang hướng khác vì các thầy không mang theo trái tim. Người xứ Samaria đã đi đến nơi vì ông đi đường với trái tim nhân hậu, trái tim rất nhạy bén, rất quan tâm và rất chung thuỷ. Với trái tim ấy, ông đã yêu người thân cận như chính mình ông. Với trái tim ấy, ông đã mở đường đi đến sự sống đời đời.
Chúa Giêsu dạy tôi bắt chước người xứ Samaria nhân hậu. Hãy lên đường với trái tim. Hãy lắng nghe với trái tim. Hãy hành động với trái tim. Hãy đi trên đường của trái tim. Hãy để trái tim tham dự vào mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi suy nghĩ. Hãy mang theo trái tim theo trên khắp mọi nẻo đường. Con đường đi với trái tim chính là con đường dẫn đến sự sống đời đời.
Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.
*
Kiểm điểm đời sống
1. Theo ý bạn đâu là những dấu hiệu cho thấy một tình yêu đích thực và đáng tin?
2. Mỗi khi gặp một người cần giúp đỡ, bạn có hăng hái ra tay giúp ngay hay còn chần chờ, viện lý do để thoái thác?
3. Sau khi nghe dụ ngôn “Người xứ Samaria nhân hậu”, bạn có quyết tâm gì?
4. Mang theo trái tim nghĩa là gì?
--------------------------------------
ÔNG HOÀNG HẠNH PHÚC
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: ở một thành phố nọ, có một Ông Hoàng sống một cuộc đời rất hạnh phúc. Vì thế khi ông chết, người ta đã làm một bức tượng của ông, đặt trên một cái bệ cao giữa thành phố và đặt tên là Ông Hoàng Hạnh Phúc, như là biểu tượng may mắn sẽ mang hạnh phúc đến cho mọi người dân trong thành.
Một buổi chiều đầu mùa đông, một con chim én đến đậu dưới chân pho tượng. Bỗng một giọt nước rơi xuống đầu nó. Nó nhìn lên và ngạc nhiên vì đó là giọt nước mắt của Ông Hoàng. Ông đang khóc. Những giọt nước mắt cứ lăn dài trên đôi má của ông. Chim én ngạc nhiên và hỏi rằng:
- Tại sao ông khóc? Ông là Ông Hoàng Hạnh Phúc kia mà!
Ông hoàng trả lời:
- Từ khi đứng trên cao nhìn thấy cảnh sống của dân thành, ta đau lòng quá và không còn hạnh phúc nữa. Ta muốn đi giúp họ lắm, nhưng đôi chân ta bị chôn chặt ở cái bệ này nên không thể nào đi được. Bạn có thể giúp ta không?
- Không được, tôi phải bay đi cho kịp đàn đang bay về phương bắc.
- Hãy làm ơn giúp ta đêm nay đi.
Chim én ngập ngừng giây lát rồi nói:
- Thôi được. Bây giờ ông muốn tôi làm gì?
- Trong một túp lều đàng kia có một người mẹ đang khóc vì con bà bị bệnh mà bà không có tiền gọi bác sĩ. Bạn hãy lấy viên ngọc ở chuôi kiếm của ta đem cho bà ấy.
Chim én dùng mỏ lấy viên ngọc ra và bay đến cho bà mẹ nghèo. Nhờ có tiền, bà đã lo cho con bà khỏi bệnh.
Hôm sau Ông Hoàng lại xin chim én nán lại một đêm nữa để mang viên ngọc khác đến cho một người nghèo khác. Rồi hôm sau nữa đến giúp một người nghèo khác nữa. Cứ thế hết ngày này đến ngày khác, con chim én lấy các thứ trang sức của Ông Hoàng đem cho người nghèo. Cuối cùng trên mình Ông Hoàng không còn gì quý giá nữa. Khi đó đã là giữa mùa đông, trời đã lạnh rất nhiều.
Một buổi sáng, người ta thấy xác con chim én đã chết cóng dưới chân pho tượng Ông Hoàng trần trụi. Phía dưới thành phố, mọi người đều hạnh phúc. Họ có biết đâu hạnh phúc của họ là nhờ sự hy sinh của Ông Hoàng Hạnh Phúc và con chim én nhỏ bé kia.
*
Lời bàn:
Đôi khi trong cuộc sống chúng ta vẫn vô tâm như vậy. Nhiều người đã được sống hạnh phúc nhưng họ đâu biết rằng hạnh phúc của họ là nhờ sự chắt chiu từng hy sinh âm thầm của biết bao nhiêu người. Có thể đó là sự hy sinh không mệt mỏi của cha, của mẹ từng ngày vất vả trên nương đồng, hay trên công trường. Có thể đó là sự hy sinh nhịn nhục của những người thân chịu thiệt thòi để họ được hạnh phúc. Có thể đó là sự hy sinh nhường nhịn của bạn bè để họ được vui hơn trong cuộc sống. Thế mà, nhiều người vẫn tưởng rằng mình lớn lên không cần ai giúp đỡ. Lối suy nghĩ đó đã dẫn đến một đời sống ích kỷ, hẹp hòi, một lối sống dửng dưng đến xa lạ với đồng loại.
Thực vậy, ở trong cuộc đời này vẫn còn đó biết bao người chắt chiu từng hạt gạo, gom góp từng miếng vải để giúp kẻ cơ hàn. Cuộc đời vẫn còn đó biết bao người hy sinh cả cuộc sống mình để phục vụ các bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân nan y. Vẫn còn đó cả hàng triệu người đang đổ mồ hôi vật vã trên công trường, trên nương đồng để làm ra của cải và sản phẩm cho hàng tỉ người trên trái đất hưởng dùng. Vâng, cuộc đời vẫn còn đó biết bao người biết hy sinh vì tha nhân, biết kiến tạo niềm vui trong những giọt mồ hôi lao nhọc để phục vụ tha nhân. Thế nhưng, giòng đời vẫn còn đó những trái tim khô cằn, những tâm hồn lạnh nhạt đến dửng dưng với nỗi đau của đồng loại. Họ đâu biết rằng cuộc đời của họ đang bị cuốn trôi theo một giòng chảy của trần đời. Họ được đón nhận thì cũng phải biết trao ban. Vì chẳng ai có thể giữ mãi cho mình được điều gì mãi mãi. Tất cả những gì mình có rồi một mai cũng bị cuốn trôi theo thời gian.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết dừng lại để giúp đỡ những ai đang cần đến chúng ta, hãy biết chia sẻ với những khó khăn của tha nhân. Hình ảnh Thầy Tư tế và Lê vi đã bỏ lại đằng sau tiếng kêu cứu của đồng lại diễn tả một thế giới mà con người luôn hối hả bận rộn với giòng chảy cuộc đời. Họ bị giòng đời cuốn trôi đến nỗi đã quên rằng, cuộc sống đích thực là cuộc sống còn có khả năng chia sẻ với tha nhân. Một cuộc đời có ý nghĩa là cuộc đời biết dùng thời giờ để sống với tha nhân trong yêu thương và phục vụ. Và một cuộc đời đã mất khi không còn khả năng để giúp đỡ anh em. Ông Hoàng hạnh phúc đã không còn hạnh phúc khi ông nhận ra mình không còn khả năng để giúp đỡ đồng loại. Ông cảm thấy bất hạnh khi mình không còn khả năng để xoa dịu nỗi đau của đồng loại. Ngược lại, người Samaria nhân hậu, ông đã tìm được niềm vui của cuộc đời phục vụ. Ông đã dừng lại để xoa dịu nỗi đau của kẻ bất hạnh. Cuộc đời ông hạnh phúc biết bao khi ông băng bó nỗi đau của đồng loại. Khi ánh mắt của kẻ chịu ơn đang nhìn ông một cách trìu mến thân thương. Niềm vui của ông càng được nhân lên khi người mà ông giúp đỡ đã coi ông như anh em. Từ một người xa lạ nay trở thành kẻ thân thích. Ông đã biết dùng của cải đời này để mua bạn hữu đời này và cả đời sau. Đó chính là mẫu người mà Chúa đang mời gọi chúng ta hãy làm theo như vậy.
Ước gì trong năm thánh với chủ đề Giáo hội mầu nhiệp, hiệp thông và sứ vụ sẽ là lời nhắc nhở chúng ta về Giáo hội của Chúa, do Chúa sáng lập và hiện diện thì mỗi ky-tô hữu cần phải hiệp nhất với nhau trong Chúa, cần nhìn nhận nhau là anh em và hãy biết sống đời kytô hữu bằng sự dấn thân để phục vụ tha nhân trong yêu thương chân thành. Nguyện xin Chúa là Đấng đã hết lòng yêu thương và phục vụ con người cho đến nỗi bằng lòng chịu chết vì chúng ta, giúp cho chúng ta cũng biết sống yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng ta. Amen
----------------------------------
AI LÀ ANH EM CỦA TÔI
Lm. Anphong Trần Đức Phương
Chúa Nhật hôm nay nói đến luật Bác Ái là kính mến Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân, đặc biệt trong việc giúp đỡ những người lâm cảnh khó khăn.
Bài Đọc I
(Đệ Nhị Luật 30:10-14)
Lề luật của Chúa đã được ghi khắc vào lòng chúng ta (Lương Tâm) để hướng dẫn chúng ta sống cho xứng đáng những con người đã được Chúa dựng nên theo hình ảnh Chúa, chúng ta cần đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày.
Bài đọc II
(Côlôsê 1:15-20)
Chúa Giêsu cũng chính là Thiên Chúa thật, Ngài mặc lấy thân xác con người, đổ máu ra trên Thánh Giá để cứu chuộc nhân loại và trở nên “trưởng tử mọi loài thọ sinh và là Đầu Giáo Hội.”
Bài Phúc Âm
(Luca 10: 25-37)
Chúng ta phải thực hành Đức Bác Ái để được sống đời đời. Đó là yêu mến Chúa hết lòng và yêu thương phục vụ tha nhân. Người Samaritano tốt lành là hình ảnh của những người biết thương cảm và hy sinh giúp đỡ mọi người, nhất là những người gặp hoạn nạn, dù người đó là ai.
Mỗi ngày khi chúng ta đọc Kinh ‘Mười Điều Răn Đức Chúa Trời’, chúng ta nên để ý đến lời cuối cùng “Mười điều răn Chúa tóm về hai điều này: trước hết kính mến Một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau là yêu thương tha nhân như chính mình .” Nếu chúng ta sống được hai điều căn bản này là chúng ta đã chu toàn được mọi lề luật của Chúa và các giới răn của Giáo Hội.
Luôn biết kính mến Chúa và thương yêu người khác như chính mình, chúng ta sẽ dễ dàng chu toàn các bổn phận thờ phượng Chúa, chúng ta sẽ xa tránh các dịp tội để không phạm tội làm mất lòng Chúa và xúc phạm đến nhau (những tội như tham lam tiền bạc, lỗi phép công bằng, làm chứng gian hại người khác, lộng ngôn, nói hành nói xấu, ham thú vui xác thịt, luyến ái tự do, li dị, phá thai…). Mọi tội lỗi đều xúc phạm đến Thánh Danh Chúa, và làm hoen ố hình ảnh của Chúa mà chúng ta mang trong tâm hồn khi chúng ta đã được thanh luyện qua Bí Tích Thánh Tẩy.
Hơn nữa, giữ Lề Luật Bác Ái không phải chỉ là lo xa tránh tội lỗi mà tích cực hơn, còn phải lo chu toàn các bổn phận của người tín hữu: ngoài bổn phận thờ phượng Chúa, chúng ta có bổn phận đối với Ông Bà Cha Mẹ, đó là điều răn thứ bốn: Phụng dưỡng các Ngài khi còn sống, nhất là khi các Ngài đã già yêu, bịnh tật. Hằng nhớ đến và cầu nguyện cho các vị đã qua đời.
Luật Bác Ái cũng dạy chúng ta phải duy trì tình yêu trong gia đình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái; điều này cũng đòi buộc chúng ta phải hy sinh nhiều lắm để có thể chịu đựng lẫn nhau, tha thứ và nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
Ngoài gia đình ruột thịt, chúng ta còn sống trong gia đình nhân loại, mà mọi người đều là con cái Chúa và anh em với nhau “Tứ Hải Giai Huynh Đệ.” “Mọi người đều là anh em của tôi” trong gia đình nhân loại. Thực hành được đìều đó, chúng ta sẽ không còn xét đoán, kỳ thị chủng tộc, tiếng nói, mầu da…; nhưng biết chấp nhận mọi dị biệt để yêu thương nhau như anh em, để xây dựng hòa bình, thay vì gây chiến tranh, chém giết lẫn nhau. Người Samaritano tốt lành đã tận tâm giúp người bị kẻ cướp hành hung, ông đã không phân biệt, không xem xét người đó là ai, chủng tộc nào; nhưng thấy một người hoạn nạn cần giúp đỡ là ông hết lòng giúp đỡ không sợ bị liên lụy, không sợ mất thời giờ, tiền của. Đó là điều Chúa Giêsu đặc biệt muốn nhấn mạnh trong Dụ Ngôn trong Bài Phúc Âm hôm nay. Chính Chúa Giêsu đã thực hành điều đó, Ngài đã yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi, đã hy sinh xuống thế làm người, đã chịu chết để cứu chuộc mọi người thuộc mọi ‘chủng tộc và ngôn ngữ’, băng bó mọi vết thương gây ra do tội lỗi và đưa chúng ta vào “Quán Trọ” là gia đình Giáo Hội để chữa lành và đưa chúng ta về quê hương thật Nước Trời.
-------------------------------------------------------
CHIÊM NGẮM LÀM SAO, YÊU LÀM VẬY
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB
Vị thông luật, một người Do Thái chính hiệu vẫn thường suy niệm về luật Cựu ước, thừa hiểu rằng: yêu người là một luật phải giữ như một cam kết với Gia-vê. Nó chính là sự công chính hay thánh thiện có sức mang lại sự sống đời đời. Yêu người được hiểu là yêu người thân cận, còn kẻ thù thì đương nhiên phải ghét bỏ (xem Đnl 19, 18-21). Và đương nhiên, người thân cận phải là người có đi có lại với mình, cũng như Thiên Chúa Gia-vê có đi có lại với dân riêng của Ngài. Quan niệm của ông về Thiên Chúa Gia-vê biện minh cho khái niệm ‘yêu đồng loại và ghét kẻ thù’ của ông.
Đức Giê-su cũng đặt ‘yêu người’ thành ‘luật’ nền tảng của giao ước mới. Yêu người cũng vẫn là yêu người thân cận, yêu đồng loại; tuy nhiên nội dung của hạn từ đã đổi mới hoàn toàn.
Và nội dung này thay đổi, đâu phải chỉ vì một câu chuyện dụ ngôn. Đối với Ki-tô hữu, dụ ngôn ‘người Sa-ma-ri tốt lành’ luôn đưa họ tới việc chiêm ngắm một Thiên Chúa yêu thương và cứu vớt, chiêm ngắm một Giê-su Ki-tô hiến mình trên thập giá. Nội dung ‘yêu người thân cận’ của Ki-tô hữu sẽ thay đổi hoàn toàn, tùy thuộc vào sự chiêm ngắm này.
Thiên Chúa mà Ki-tô hữu ký kết giao ước, không còn là một Thiên Chúa chỉ yêu kẻ lành thánh và ghét bỏ kẻ tội lỗi, ân thưởng người lành và trừng phạt người gian ác, như quan niệm về Gia-vê của Cựu ước. Khi gặp thấy một người sa ngã, Người đâu có ‘tránh qua bên kia mà đi’ như các thày tư tế và Lê-vi. Thậm chí Người đã từng so sánh mình với thầy thuốc đến vì người bệnh, chứ đâu phải vì người mạnh khỏe, với người mục tử, bỏ tất cả chỉ để đi tìm con chiên lạc. Người đã không xa tránh người bị phong cùi, nhưng đã chạm tới và chữa lành; không xua đuổi, nhưng để cho người đàn bà tội lỗi ôm hôn…
Ki-tô hữu phải biết mình đã ký kết giao ước với một Thiên Chúa như thế. Mà làm sao họ không biết được điều này, khi mà ngay từ đầu, họ đã nhận được một phép rửa thứ tha, và liên tục trong đời Ki-tô hữu, họ nhận đi lãnh lại bí tích tha thứ với lòng thống hối? Đối với họ, hình ảnh người Sa-ma-ri tốt lành là còn quá mờ nhạt, so với những gì Giê-su đã thực hiện cho họ.
Ấy thế mà có điều gì không ổn! Nếu tôi thường xuyên chiêm ngắm (chưa nói tới kết hợp thân mật) một Giê-su Thiên Chúa như thế, nếu tôi liên tục làm dấu thánh giá và cử hành hiến tế thập giá… thì tại sao yêu người thân cận, ngay trong quan điểm của tôi, vẫn chưa suy chuyển gì hết? Tôi đã chẳng vẫn cứ đòi người ta yêu mình trước, rồi mình yêu lại sau… Yêu người của tôi còn quá tính toán hơn thua… và chẳng có mấy nét tự hiến (cho dầu tôi rất thường tự mãn áp dụng hạn từ đó cho mình).
“Ông hãy đi, và cũng làm như vậy.”
Ồi, nếu tôi đã biết chiêm ngắm nhiều hơn nữa một Thiên Chúa “đã thực thi lòng thương xót đối với…” chính tôi; một Thiên Chúa đã coi tôi là một cận thân, ngay cả khi tôi thù hằn với Ngài, đã “chạnh lòng thương… lại gần, lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho tôi, băng bó lại… rồi vực lên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Tôi nghĩ toàn bộ chương trình đời Ki-tô hữu chỉ hệ tại: ‘chiêm ngắm lòng thương xót Chúa dành cho mình… và ra đi… cũng làm như vậy’.
*
Lời nguyện:
Lạy Chúa, để xây dựng và củng cố niềm tin Ki-tô hữu của con. Con sẽ không xin Chúa giúp con một điều gì, ngoài việc biết chiêm ngắm tình yêu thương xót Chúa biểu hiện nơi thập giá, cách riêng, qua việc cử hành sinh động mầu nhiệm tự hiến Chúa dành cho chính con; để càng chiêm ngưỡng Chúa, con càng biết yêu, và thực thi tình yêu tha nhân cách chân thực. Amen
-------------------------------
YÊU THƯƠNG
Là
CỐT TUỶ CỦA LUẬT THIÊN CHÚA
(JKN)
Câu hỏi gợi ý:
1. Yêu Chúa và yêu người, cái nào quan trọng hơn? Đặt vấn đề như thế có đúng đắn không? Có thể tách hai tình yêu ấy thành biệt lập với nhau không?
2. Tinh thần yêu thương của Đức Giêsu khác với tinh thần của Cựu Ước thế nào? Có gì mới mẻ hơn so với Cựu Ước?
3. Xét câu hỏi của Đức Giêsu: «Trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?», bạn nghĩ gì về về câu hỏi ấy? Tại sao lại «ai tỏ ra là người thân cận», chứ không nói «ai là người thân cận»?
Suy tư gợi ý:
1. Yêu thương là cốt tuỷ của Luật Thiên Chúa
Lề luật vốn có rất nhiều điều luật, mỗi điều luật lại có một số khoản luật, làm sao giữ luật cho trọn vẹn để trở nên công chính? Muốn thế, phải nắm được cốt tuỷ của lề luật. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy cốt tuỷ của lề luật là lòng yêu thương. Theo Cựu Ước – được thầy thông luật trưng dẫn trong bài Tin Mừng hôm nay – thì có hai đối tượng của lòng yêu thương: một là Thiên Chúa, hai là người thân cận. Nhưng trong Tân Ước, đặc biệt trong các thư của Phaolô và Gioan, thì hai đối tượng ấy được tổng hợp lại thành một thực tại duy nhất có hai mặt, tương tự như một tờ giấy duy nhất có hai trang gắn liền nhau không thể tách rời. Yêu Chúa và yêu người là hai mặt của một tình yêu duy nhất. Do đó, yêu Chúa đích thực tất nhiên phải yêu người, «ai nói mình yêu Chúa mà không yêu người là kẻ nói dối» (1 Ga 4, 20). Thánh Phaolô tóm cả lề luật vào một mối duy nhất là yêu người: «Tất cả lề luật được tóm gọn trong một điều này: Hãy yêu người lân cận như chính mình» (Gl 5, 14), vì yêu người đích thực thì đã bao hàm yêu Chúa trong đó rồi. Nói khác đi, yêu người chính là yêu Chúa, miễn sao tình yêu đó là đích thực, nghĩa là vô vị lợi: yêu người, hy sinh cho người không vì một lợi lộc nào cả, thậm chí không phải để được Thiên Chúa thưởng. Nếu yêu người là để được Thiên Chúa thưởng mình, hay vì một lợi lộc khác của mình thì suy cho cùng hoá ra đó là mình tự yêu bản thân mình chứ đâu phải mình yêu người. Yêu kiểu ấy là một hình thức vị kỷ, chứ đâu phải là tình yêu!
2. Yêu thương là giữ trọn lề luật (x. Gl 6,2)
Chúng ta đang sống thời Tân Ước, vì thế chúng ta không nên sống theo tinh thần của Cựu Ước. Thời Cựu Ước, trình độ tâm linh của con người còn sơ khai, thấp kém, nên tiêu chuẩn để nên công chính vào thời đó là sống sao cho đúng với lề luật. Càng giữ đúng luật bao nhiêu thì càng công chính bấy nhiêu. Vì thế, những người Pharisiêu là những người hoàn chỉnh nhất theo tiêu chuẩn này: họ cố giữ luật sao cho đúng từng chi tiết, từng dấu phảy một. Tuy họ giữ đúng lề luật tôn giáo từng ly từng tý, đến nỗi có thể nói rằng khó có ai giữ lề luật chi ly hơn họ, nhưng Đức Giêsu đã nhận ra rằng trong lòng họ không có tình yêu, trái lại chỉ có lòng ích kỷ. Nếu họ có giúp đỡ ai, hy sinh cho ai, thì ý hướng khiến họ làm điều ấy là vì lề luật khuyên hay buộc như vậy, vì họ nghĩ: có làm như vậy thì mới là người công chính, và mới được Thiên Chúa ân thưởng. Họ giúp đỡ, hy sinh cho người khác rất nhiều, mà lòng họ có thể chẳng yêu thương người ấy bao nhiêu. Họ làm mọi sự vì lề luật đòi hỏi, chứ không phải tình yêu đòi hỏi.
Tới thời Đức Giêsu, Ngài thấy Dân Chúa đã sống trong trình độ tâm linh ấy cả ngàn năm rồi, bây giờ Ngài phải nâng trình độ ấy lên. Tiêu chuẩn để nên công chính bây giờ phải được nâng cao hơn: không nên làm vì lề luật buộc, mà vì tình yêu đối với tha nhân đòi buộc và thúc đẩy. Vì thế, Ngài nói: «Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời» (Mt 5,20). Ý của Ngài không phải muốn chúng ta giữ lề luật nhiệm nhặt hơn người Pharisiêu, vì chẳng mấy ai giữ luật tài hơn họ. Ngài muốn chúng ta công chính hơn họ ở chỗ có tình yêu bên trong, và làm mọi sự vì yêu thương chứ không phải vì lề luật buộc phải làm như thế. Điều đó không có nghĩa là Ngài đả phá lề luật, mà trái lại là làm cho lề luật hay việc giữ luật nên hoàn chỉnh hơn: giữ luật vì tình yêu, đưa tình yêu vào trong lề luật. Một khi đã có tình yêu đích thực, thì như thánh Âu-Tinh nói: «Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm». Tình yêu sẽ cho ta biết ta phải làm gì. Theo thánh Phaolô thì lề luật không phải được lập nên cho người có tình yêu, mà cho người không có tình yêu: «(9) Lề Luật có đó, không phải cho người công chính, mà là cho hạng người sống ngoài lề luật và bất phục tùng, vô luân và tội lỗi, phạm thánh phạm thượng, giết cha giết mẹ, sát nhân, (10) dâm dật, kê gian, buôn người, nói dối, bội thề, và những kẻ sống ngược với giáo lý lành mạnh» (1 Tm 1,9-10).
Nếu không có tình yêu, thì việc làm theo luật có tốt đẹp đến đâu cũng vô giá trị. Thánh Phaolô nói rất rõ: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1 Cr 13,3). Đem hết gia tài ra bố thí cho người nghèo là một hành động có vẻ đầy yêu thương, nhưng nó vẫn có thể phát xuất từ một động lực hoàn toàn vị kỷ, chẳng có chút tình thương nào: bố thí để mọi người khen, nể phục, để được mang tiếng là thương người, là đạo đức.
3. Hai thái độ giữ luật trong dụ ngôn người Samari tốt lành
Trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy có hai thái độ giữ luật:
– Một là của thầy tư tế và thầy Lêvi, tượng trưng cho tinh thần vị luật của Cựu Ước. Theo họ, trong lề luật, không có khoản nào qui định cụ thể phải cứu giúp người trong hoàn cảnh như thế này cả. Trái lại, có những khoản qui định cụ thể về sự sạch sẽ: «(Tư tế lớn nhất trong hàng anh em) thì không được đến gần người chết, và không được làm cho mình ra ô uế, dù vì cha hay vì mẹ mình» (Lv 21,11). Như vậy, nếu mình không cứu người ấy thì mình chẳng lỗi luật, còn nếu đụng đến người ấy mà lỡ người ấy chết trên tay mình, thì mình ra ô uế, không được tế lễ hay ăn bánh thánh. Thái độ lãnh đạm của họ đối với người bị nạn quả là có lý vì họ nghĩ: điều quan trọng là làm theo Lề Luật, chứ không phải là làm theo sự đòi hỏi của tình yêu. Vả lại, Lề Luật nói: «Phải yêu người thân cận như chính mình» (Lv 19,18), chứ phải yêu bất cứ người nào đâu! Nếu có tình yêu thì tình yêu ấy chỉ dành cho người lân cận, nghĩa là sống gần mình mà thôi.
– Hai là của người Samari, tượng trưng cho những người không sống theo Lề Luật: trong họ, những người tốt thì sống theo sự đòi hỏi của lương tâm hơn là của lề luật thành văn. Do đó, thấy người bị nạn thì người Samari tốt lành này động lòng thương, lương tâm và tình thương đồng loại đã thúc đẩy anh ta cứu giúp người bị nạn đến nơi đến chốn, bất chấp nạn nhân là người Do Thái, thuộc dòng tộc có hiềm khích với dòng tộc anh. Cách hành xử đầy yêu thương của anh mới làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Đức Giêsu đưa ra dụ ngôn này để trả lời cho câu hỏi của anh chàng thông luật: «Nhưng ai là người thân cận của tôi?». Theo câu hỏi mà Đức Giêsu đưa ra sau dụ ngôn: «Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?», thì vấn đề không phải là ai là người thân cận để mình yêu thương, mà là phải tỏ ra mình là người thân cận với mọi người, bằng cung cách xử sự đầy yêu thương với họ. Kinh nghiệm tôi cho thấy: khi có ai tỏ tình yêu thương tôi bằng những hy sinh cụ thể, dù người ấy là người tôi chưa hề quen biết hay ở xa tôi vạn dặm, thì hành động yêu thương ấy làm cho người ấy và tôi trở nên gần gũi nhau, thân mật với nhau. Tình yêu thương và sự hy sinh ấy càng lớn thì sự gần gũi ấy càng tăng lên, thậm chí đi đến chỗ coi nhau như ruột thịt. Trái lại, dù gần gũi, dù là họ hàng, máu mủ, ruột thịt mà không yêu thương nhau, thì lại trở nên như kẻ xa lạ. Như vậy, theo tinh thần của Đức Giêsu, chúng ta phải biến tha nhân thành ruột thịt, thành gần gũi với mình bằng cách cư xử đầy yêu thương với họ, hơn là chọn lấy những người nào là ruột thịt hay gần gũi với mình để yêu thương.
*
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con một tình yêu đích thực, vị tha, làm động lực thúc đẩy cho mọi hành động của con. Cho con biết thật sự quên mình được thể hiện bằng những hy sinh cụ thể cho tha nhân, vì đó chính là dấu chứng của tình yêu đích thực mà con cần có để nên công chính.
------------------------------
AI LÀ ANH EM TÔI
Chúa Nhật 15TNC – (Lc 10. 25 – 37)
Một Luật sĩ nêu câu thắc mắc.
Phải làm chi để sống đời đời.
Trước là kính mến Chúa Trời.
Sau là thương hết mọi người anh em.
Lời Chúa dạy phải đem ứng dụng.
Đừng nói thương mà bụng dao găm.
Hãy nhớ câu chuyện Phúc Âm:
Có người cướp đánh nằm lăn giữa đường.
Thầy Tư tế coi thường lẩn tránh.
Thầy Trợ tế cũng lánh cho xa.
Còn người Samaria.
Thuốc thang cứu chữa mặn mà trông nom.
Chúa phán hỏi ba con người ấy.
Ai là người thương mến anh em.
Chính người băng bó thuốc men.
Thực thi bác ái chẳng còn hồ nghi...
Matthêu Vũ.
--------------------
HOA SAMARI
Chúa Nhật 15TNC – (Lc 10, 25 – 37)
Hoa thơm tươi nở giữa bùn đen,
Lan tỏa nhẹ nhàng tựa đóa sen.
Nhân thế phong trần nhân thế tốt,
Tình trời cao cả tình trời khen.
Hiệp thông, bác ái nên mầu nhiệm,
Chia rẽ, bất công thấy thấp hèn.
Hoan lộ Nước Trời vui tiến bước,
Gập ghềnh, khúc khuỷu quyết đua chen.
08/07/2010
Hạt Nắng
-------------------------------
NGƯỜI TÌNH SAMARI
Chúa Nhật 15TNC – (Lc 10, 25 – 37)
Trên đường về đêm đen,
Lang thang dưới ánh đèn.
Xót xa tình nhân thế,
Nhục nhằn kiếp đua chen.
Trên đường về đêm nay,
Tan tác kiếp đọa đày.
Thân tàn, tim nhức nhối,
Tình đời như mây bay.
Chúa, Người Tình muôn thưở,
Đã đến bên con, dìu con trở về.
Chúa, Người Tình Samari,
Băng bó vết thương, tim lòng nhức nhối.
Chúa, Ngài là Tình Yêu,
Dẫn lối con qua, tăm tối ê chề,
Chúa, Ngài là Ánh Sáng,
Thung lũng cuộc đời, Ngài dìu dắt con qua.
Trên hành trình hôm nay,
Con quyết hăng say, theo bước chân Ngài.
Đi vào lòng thế giới,
Chia sớt áo cơm, cho người nghèo khó.
Mọi người là anh em,
Bừng cháy yêu thương, bác ái quên mình.
Sống phục vụ tha nhân,
Như Chúa quên mình, Ngài chịu chết vì con.
08/07/2010
M. Madalena Hoa Ngâu
---------------------------------
HÀNH TRÌNH TÌNH YÊU
Chúa Nhật 15TNC – ((Lc 10, 25 – 37)
Đường Phúc Thật, Chúa gọi con tiến bước,
Đường gập ghềnh, đường hiểm trở, gian nan.
Đường chông chênh, đường thử thách trái tim vàng,
Lòng quảng đại, yêu thương người cùng khổ.
Biết lắng nghe tiếng lòng người thổ lộ,
Tiếng thở than giữa giòng chảy cuộc đời.
Tiếng thì thầm, nức nở giữa biển khơi,
Tiếng rên xiết, tận đáy lòng người bất hạnh.
Bằng con tim, bằng tình yêu lành mạnh,
Bằng đôi tay, chăm sóc những vết thương.
Dầu Tình Yêu, xoa bóp nỗi đoạn trường,
Dầu Nhân Ái, quan tâm người hoạn nạn.
Trái tim yêu không nửa vời, nứt rạn,
Yêu đến tận cùng, không bỏ cuộc buông xuôi.
Yêu nhiệt tâm, tha thiết, thắm tình người,
Trái tim phục vụ, chân thành luôn bừng cháy.
Đường về quê Trời,
Hiến dâng niềm trông cậy,
Tựa vào trái tim Chúa nhân từ,
Con can đảm bước đi.
09/07/2010
Bâng Khuâng Chiều Tím
--------------------------
NÉT ĐẸP SAMARI
Chúa Nhật XV TNNC – (Lc 10, 25 – 37)
Thật đẹp thay bông hoa lòng hé nở,
Giữa đời thường, giữa cuộc sống bon chen.
Giữa khó khăn, giữa hoàn cảnh thấp hèn,
Lòng hào hiệp vẫn bừng lên toả sáng.
Cao quý thay, tình người luôn xán lạn,
Hoa yêu thương không đợi phải đúng mùa.
Hoa ân tình bất chấp cả nắng mưa,
Vẫn toả ngát hương thơm, dù sương gió.
Chúa dạy con, dù sống trong gian khó,
Luôn nêu cao bài học của tình thương.
Biết quan tâm kẻ gặp nạn bên đường,
Tình phục vụ, hy sinh, lòng quảng đại.
Người Sa-ma-ri, một tấm lòng nhân ái,
Nêu cao gương hào khí, đức yêu thương.
Chẳng ngại ngần, chẳng lo sợ vấn vương,
Chọn đức ái, vượt trên bao lề luật.
Kính lạy Chúa, Ngài chính nguồn sự thật,
Xin giúp con can đảm sống trung kiên.
Giữa đường đời còn đau khổ triền miên,
Sống chia sẻ, xoá tan lòng thù hận.
Tình yêu Chúa làm hồn con phấn chấn,
Sống thực thi Lời Chúa, biết hy sinh.
Giữa anh em thân cận, biết quên mình,
Sống tình Chúa, tình người, vui sứ mạng.
Lửa trong tim, Chúa trao luôn bừng sáng,
Mời gọi con mạnh mẽ bước vào đời.
Cùng với Ngài đi rảo khắp mọi nơi,
Sống hiệp nhất, cảm thông, tình liên đới.
Bước theo Chúa, tâm hồn con phơi phới,
Biết ưu tư trước nỗi khổ tha nhân.
Biết cho đi, biết chia sẻ, thông phần,
Không phân biệt màu da hay chủng tộc.
Bước vào đời, con không còn đơn độc,
Gặp gỡ người là gặp Chúa trong tim.
Vinh phúc thay, nguồn hạnh phúc con tìm,
Là yêu Chúa và yêu người nên một.
Nhờ ơn Chúa, hoa lòng con tươi tốt,
Biết hiến dâng hương thơm ngát cho đời.
Sống hoà mình, hoa thắm nở trên môi,
Mang nét đẹp Sa-ma-ri thời đại.
Hoa bất tử là hoa lòng nhân ái...
AP. Mặc Trầm Cung





























Romantic Piano Radio
