Thông báo mới cho diện vợ chồng F2A
xem chi tiết tại đây
.
 .
Tin tức Công Giáo - Chia sẻ, giao lưu
1, 2, 3, 4, 5 ... 29 - bottom
Lưu ý: Tất cả vấn đề về tôn giáo đều nhậy cảm, không khéo xử sự dễ sinh ra chuyện đáng tiếc. VietDitru thiết kế mục riêng để thành viên dễ dàng sinh hoạt. Thành viên phải để ý tế nhị trong cách hành xử.

*Tin tức Giáo Hội.
********************
Thánh lễ mừng 19 năm Cung Hiến Thánh Đường và tuyên hứa HĐMVGX nhiệm kỳ 2011-2015 tại GX Hoà Hưng Sài Gòn
Image
Image
Image
Image
Image
Image




330610 top -
@Lang van :n Em handle lại bên cột trái , phía dưới Gia đình Công Giáo và Phòng cầu nguyện là Thông tin Giáo hội Công Giáo -Giao lưu,trao đổi. Và nên đổi tên chuyên mục nhà thờ Chí Hoà thành Phòng Từ Thiện rồi thêm vào bên dưới nữa , vậy là chúng ta có tất cả là 5 chuyên mục ( tính cả bài giảng Cha Long ). Nên hội ý Baolatinhchua và giusetrongdung để chuyên trang GĐCG đẹp hơn và phong phú hơn. Thân mến.

330648 top -
Ðức Thánh Cha tiếp kiến các vị Giám Ðốc

các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo




Vatican (SD 14-5-2011) - Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 14 tháng 5 năm 2011, dành cho các vị Giám đốc toàn quốc các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo, Ðức Thánh Cha Biển Ðức 16 kêu gọi toàn thể Giáo Hội tái động viên để chu toàn sứ mạng truyền giảng Tin Mừng cứu độ.

Trong số hơn 100 vị Giám đốc về Roma tham dự khóa họp thường niên trong những ngày này, lần đầu tiên cũng có một đại diện của Giáo Hội tại Việt Nam, đó là Cha Ngô Quang Tuyên. Hội nghị diễn ra tại Trung Tâm Salesianum ở Roma và dành 2 ngày mùng 9 và 10 tháng 5 năm 2011 để đào sâu linh đạo truyền giáo, trước khi dành những ngày kế tiếp để cứu xét các đơn xin và quyết định các tài khoản trợ giúp các xứ truyền giáo.

Ngỏ lời trong buổi tiếp kiến, Ðức Thánh Cha đặc biệt chào thăm Ðức Tổng Giám Mục Fernando Filoni, tân Tổng trưởng Bộ truyền giáo và Ðức Hồng Y Ivan Dias, tổng trưởng vừa mãn nhiệm, cũng như các chức sắc của Bộ. Ngài nêu bật sự cấp thiết phải loan báo niềm hy vọng lớn lao cho con người ngày nay.

Ðức Thán Cha nói: "Thực vậy, những vấn đề mới và những thứ nô lệ mới đang nảy sinh trong thời đại ngày nay, ở thế giới thứ nhất sung túc và giàu có nhưng lại không chắc về tương lai, cũng như ở các nước đang lên, trong đó vì sự hoàn cầu hóa thường mang đặc tính theo đuổi lợi lộc, nên số dân nghèo, những người xuất cư, những người bị áp bức ngày càng gia tăng, và ánh sáng hy vọng bị tàn lụi".

Ðức Thánh Cha cũng khẳng định rằng "Giáo Hội phải liên tục canh tân nỗ lực dấn thân mang Chúa Kitô, kéo dài sứ mạng cứu thế của Chúa, để Nước Chúa được hiển trị, Nước của công lý, an bình và tự do. Biến đổi thế giới theo chương trình của Thiên Chúa bằng sức mạnh đổi mới của Tin Mừng, đó chính là nghĩa vụ của toàn thể dân Chúa. Vì thế cần phải tiếp tục công trình rao giảng Tin Mừng với một nhiệt huyết hăng say mới mẻ, hân hoan loan báo Nước thiên Chúa đã đến trong Chúa Kitô...".

Ðức Thánh Cha đặc biệt nhắc nhở mọi môn đệ và cộng đoàn của Chúa Kitô phải thực sự xác tín rằng "Lời Chúa là chân lý cứu độ mà con người thuộc mọi thời đại đang cần đến. Nếu xác tín đức tin ấy không ăn rễ sâu trong đời sống chúng ta, thì chúng ta không thể cảm thấy sự say mê và vẻ đẹp của việc loan báo Tin Mừng. Trong thực tế mỗi Kitô hữu phải cảm nhận sự cấp thiết làm việc để xây dựng Nước Thiên Chúa".

Sau cùng, Ðức Thánh Cha nhấn mạnh rằng: "điều kiện cơ bản để loan báo Tin Mừng là để cho mình được Chúa Kitô hoàn toàn chiếm hữu, Ngài là Lời Thiên Chúa nhập thể, vì chỉ có ai chăm chú lắng nghe Ngôi Lời Nhập Thể, và kết hiệp thân tình với Chúa, thì mới có thể trở thành người loan báo về Chúa... Chỉ có những ai ăn rễ sâu xa nơi Chúa Kitô và Lời Ngài thì mới có khả năng không chiều theo cám dỗ biến công cuộc truyền giảng Tin Mừng thành một dự phóng chỉ có tính chất phàm nhân, xã hội, mà dấu nhẹm hoặc không nói vì về chiều kích siêu việt của ơn cứu độ do Thiên Chúa trao tặng trong Ðức Kitô".

Hiện nay có 4 Hội Giáo Hoàng truyền giáo là: Hội Truyền Bá đức tin, Hội thánh Phêrô Tông Ðồ, Hội Nhi Ðồng truyền giáo và sau cùng là Liên hiệp Giáo sĩ truyền giáo. 3 Hội đầu tiên đều có quyên tiền trợ giúp các hoạt động tại các nước truyền giáo, trong khi Hội thứ tư có mục đích động viên tinh thần truyền giáo của các linh mục và tu sĩ. Số tiền tài trợ của 3 Hội vừa nói vào khoảng 200 triệu mỹ kim mỗi năm. 4 Hội này hiện có một vị Chủ tịch là Ðức Tổng Giám Mục Piergiuseppe Vacchelli, cũng là Ðồng Tổng thư ký của Bộ truyền giáo. (SD 14-5-2011)

Lm Trần Ðức Anh, OP

(Radio Vatican)

330657 top -

Thánh Bổn mạng của chị: Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

@phương5960

Trungngocbis gioan tông đồ

@trungngocbis

Nhờ BLTC,Giusetdung cập nhật danh sách Anh chị này nhé

ACE nào chưa có tên trong danh sách GDCG VDT vui lòng nhắn tên Thánh bổn mạng ở đây nhé. Không nên trao đổi trong trang GDCG nhé. Cám ơn
Xin Chúa Chúc lành cho ACE

330841 top -
Đến hôm nay thì đã thấy rõ: sau khi nhắm mắt lìa đời, Đức Gio-an Phao-lô 2 đã biến thành một lời rao giảng vang dội khắp hành tinh. Tác giả Thánh Vịnh ngày xưa chiêm ngắm bầu trời rồi cảm thán:

Image


“Chẳng rằng, chẳng nói,

Không vang một tiếng hòng lọt thấu tai,

Mà kia văn lý thấu toàn cõi đất,

Và lời lẽ đạt đến tận cùng dương gian” ( Tv 19, 4 – 5 ).


Mấy ngày vừa qua, chúng ta không chiêm ngắm bầu trời, mà chiêm ngắm mặt đất. Còn Đức Gio-an Phao-lô thì “chẳng rằng, chẳng nói”. Lời cuối cùng Ngài nói trước khi đi vào vĩnh hằng, là: “Tôi chờ bạn đã bao lâu nay, bây giờ bạn đã đến”. Từ đấy Ngài chẳng nói gì nữa. Chỉ còn lại một thân xác câm nín.

Đang chiêm ngắm thi hài nằm như một bức tượng rất đẹp trong Đền Thánh Phê-rô, ta bỗng giật mình. Hình như mình đang sống lại thân phận của mấy phụ nữ đi viếng mồ Chúa. Nghe như có ai nhắn bảo: “Sao lại tìm người sống ở trong xác chết? Người không có đây nữa. Người đang đi trước anh em tới Ga-li-lê” (x. Lc 24, 5; Mt 28, 6 – 7).

Thưa Ga-li-lê ở chỗ nào? Người đi trước chúng tôi là đi đâu? Giê-ru-sa-lem xưa có lúc tan hoang vắng vẻ, giống như một bà mẹ già đơn chiếc, tàn tạ qua ngày trên nền nhà cũ, trước kia gia đình đầm ấm yên vui, nhưng nay đã bị sóng thần thế gian cuốn trôi đi hết. Một lần Giê-ru-sa-lem bỗng thấy con cháu mình ở đầu từ xa kéo về tầng tầng lớp lớp, và tim mẹ già đập như muốn vỡ lồng ngực (Is 49, 60).

Nghe nói nhiều Nhà Thờ ở Phương Tây bây giờ trống vắng, lâu nay rất nhiều người bỏ Giáo Hội. Nếu vậy thì hôm nay Giáo Hội hãy ngước mắt lên mà xem, và hãy nói như mẹ già Giê-ru-sa-lem:

“Những người ấy, ai đã sinh ra chúng cho Tôi.

Tôi đã mất con, lại là son sẻ,

Một thân lưu đồ, cô quạnh biệt lập.

Những con người kia ai đã dưỡng dục?

Này Tôi đã còn sót lại một mình,

Thế thì những kẻ ấy ở đâu ra?” (Is 50, 21).

Gio-an Phao-lô bây giờ sống ở đâu ư? Ga-li-lê ở chốn nào ư? Hãy nhìn hàng triệu con người như sóng thuỷ triều đang dồn về Rô-ma. Họ mang danh hiệu “Thế hệ Gio-an Phao-lô 2”. Đa số còn trẻ. Họ không quản đường xa, không quản mệt mỏi, đêm đến họ nằm trên vỉa hè, ngoài quảng trường. Tất cả đều hừng hực niềm tin và lòng mến. 27 năm gieo giống. Mùa gặt đấy, lúa chín đầy đồng rồi.

Lần này Đức Gio-an Phao-lô không còn giảng bằng lời nữa. Sự hiện diện của những người từ khắp năm châu, mọi màu da, tiếng nói, nước mắt và nụ cười của họ, những bước chân của họ, tinh thần cầu nguyện toả ngát chung quanh họ, đấy là bài giảng của Gio-an Phao-lô. Bài giảng ấy được cả thế giới nghe, bởi vì suốt một tuần lễ hình ảnh hàng triệu những con người ấy tràn ngập các kênh truyền thông.

Giống như một khuôn đúc, khi tháo mở mới thấy những gì đã tượng hình nơi khoảng trống bên trong, Đức Gio-an Phao-lô được cất đi ta mới thấy tâm hồn, dung mạo Ngài hiện hình nơi đoàn người vô vàn vô số hôm nay đoàn tụ, không chỉ bằng xương, bằng thịt ở Rô-ma, mà còn bằng tâm linh, bằng cầu nguyện ở mọi nơi, mọi chân trời góc biển của thế giới.

27 năm, Ngài sải chân đi khắp nơi, tìm đến với mọi hạng người, đối diện với mọi hắc ám, để rao giảng nền văn minh của Tình Thương và Sự Sống, để xua tan nền văn minh bạo lực hiếu sát. Ngài đấu tranh không mệt mỏi cho công lý, cho hoà bình, cho những con người thấp cổ bé miệng bị hất hủi, từ thai nhi còn trong lòng mẹ đến những bệnh nhân AIDS ở giai đoạn cuối. Xét cho cùng, bao nhiêu lời đã nói, bao nhiêu việc đã làm cũng chỉ gói gọn trong một chủ ý đã được Ngài nói lên ngay từ ngày đầu trên ngôi Giáo Hoàng: “Đừng sợ! Hãy mở lòng đón Chúa Ki-tô”.

“Tình yêu của Chúa Ki-tô thúc bách chúng tôi” (2Cr 5, 14). Cho nên Ngài đã cả tiếng nói lên tiếng nói của Lòng Tin giữa những biến thiên long trời lở đất của cuối thế kỷ 20 đầu thế lỷ 21.

Từ bức tường Berlin sụp đổ đến những cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 và chiến tranh Iraq, chỗ nào cũng thấy bóng dáng Ngài xuất hiện. Ngài đi qua trại tập trung Auschwitz cũng như đi qua những tha ma nhầy nhụa các thai nhi bị nghiền nát. Ngài ôm hôn tha thiết kẻ đã bắn mình suýt chết và cũng yêu cầu các nước giàu xoá nợ của các nước nghèo để mừng thiên niên kỷ mới. Ngài tập họp hàng triệu người từ khắp năm châu và hoà mình vào những khách hành hương từ Czestochowa đến Fatima, Lộ Đức. Ngài đã lên tiếng kêu gọi và rất nhiều người cảm thấy xốn xang.

Bây giờ không còn sống trong cái thân xác đã 84 tuổi mỏi mòn, thì Ngài đang sống trong biển người đã đứng lên, đã cất bước đưa chân. Họ làm chứng rằng họ đã nghe ra tiếng Ngài và họ đã đáp lại bằng một cõi tâm thành bốc lửa. Quang cảnh thế giới đại đồng khiến cho tang lễ giống như một cuộc khải hoàn. Ta không quên rằng Ngài đã bị chống đối nhiều. Nếu không ai chống đối sao lại bị ám sát? Một kẻ ám sát, nhưng biết bao nhiều người lu loa phê phán, chê trách. Chỉ cần Ngài chống phá thai, gạt phăng cái bao cao-su, không chấp nhận hôn nhân đồng tính, không tán thành cái việc gọi là “trợ tử”, thế là đủ để bị xếp vào loại người lạc hậu, cố chấp, có ai đó còn coi người như tội phạm nữa.

Không phải chỉ có những người không chấp nhận giáo huấn của Giáo Hội. Ngay trong nội bộ Giáo Hội cũng có những chỉ trích thế này thế nọ. Và không thể vơ đũa cả nắm để bảo mọi chỉ trích đều sai. Sinh thời, chính Đức Gio-an Phao-lô cũng có lúc nhìn nhận trong một số vụ việc Toà Thánh đã xử sự vụng về. Nhưng tất cả đã trở thành tiểu tiết. Người khổng lồ đã nằm xuống. Và thiên hạ nhận ra tầm mức rộng, dài, cao, sâu của Ngài.

Vâng, mấy ông mấy bà đang hô hoán đòi giải phóng con người bằng tự do phá thai, tự do bao cao-su, tự do đồng tính, tự do chích thuốc kết liễu đời sống bệnh nhân v.v… quả là nói năng say sưa, lý luận tưng bừng và chấp nhận đủ mọi sự dễ dãi để thoả mãn mọi thèm muốn. Quý ông bà cũng có nhiều thế lực, nhiều tiền bạc hỗ trợ. Chỉ có điều chúng tôi chẳng muốn ra khỏi nhà, chẳng muốn lặn lội đường xa, ngủ bờ ngủ bụi, hè phố, quảng trường, chẳng muốn sắp hàng cả ngày để viếng một thi thể, chẳng muốn nhìn trời rồi quỳ xuống cầu nguyện cho những điều quý ông quý bà cổ vũ.

Biết sao được, người ta không chỉ sống bằng cơm, bằng bánh. Lại càng không chỉ sống bằng những biện pháp cắt rễ chặt ngọn sự sống của quý ông bà. Tưởng như quý ông bà tháo tung mọi ràng buộc, vậy mà chúng tôi lại cảm thấy chật chội ngột ngạt. Chúng tôi thấy mình thành bùn. May thay trong bùn lại mọc lên hoa sen, và chúng tôi yêu hoa sen. Cho nên chúng tôi tìm đến con người cho chúng tôi nhìn thấy đất trời cao rộng, nhìn thấy người ta giống như hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng tôi thèm Trời mới Đất mới.

Còn những phê phán về điểm này điểm kia chưa đạt trong nội bộ Giáo Hội, cả những nhà Thần Học có tiếng đã nghiêm khắc phân tích, mổ xẻ, thôi thì thời gian còn đó, tha hồ mà tỉa tót ngọn ngành, Giáo Hội có bao giờ không cần cải tổ đâu? Nhưng hiển nhiên những phân tích dẫu đúng, dẫu sắc sảo, vẫn chỉ như những dây leo trên một thân đại thụ của Lòng Tin và Lòng Mến. Thế gian không ngấm những tư tưởng phê bình kia bằng ngấm Lòng Tin và Lòng Mến này. Lòng Tin và Lòng Mến cứ là một lớp phù sa nuôi dưỡng những hạt mầm tương lai.

Trong đời Đức Gio-an Phao-lô có một nỗi buồn lớn đọng lại từ những vụ tai tiếng trong Giáo Hội, điển hình là những vụ lạm dụng tình dục vị thành niên nơi nhiều Giáo Sĩ. Đúng là đã xảy ra những chuyện như bôi tro trát trấu vào mặt Giáo Hội, tưởng chừng như Giáo Hội không còn mặt mũi nào mà ngửng đầu lên nữa. Cần phải biểu dương cộng đồng Dân Chúa ở những nơi lắm tai tiếng vẫn kiên trì làm chứng, vẫn đón tiếp vào Giáo Hội nhiều anh chị em mới. Dù sao cũng vẫn phải nhìn nhận uy tín của Giáo Hội đã bị giáng những đòn trời đánh, đã bị tổn thương rất nghiêm trọng, có thể suy đoán hậu quả trên hàng Giáo Sĩ vốn đã bị khủng hoảng mà sự thiếu Ơn Gọi sẽ còn dài dài.

Thế nhưng hôm nay, trong vầng sáng Gio-an Phao-lô, trong mến yêu của hàng triệu con người như có một dòng thác lũ cuốn phăng những chuyện bệ rạc ấy đi. Ai cũng thấy rõ hồn của Giáo Hội không cạn kiệt ở những vụ việc thê lương ấy. Hồn sâu lắng của Giáo Hội hôm nay nổi lên bề mặt mênh mang hồng thủy. Đây mới là tinh hoa. Đây mới là báu vật chôn dưới đất sâu. Đây mới là sứ điệp của Giáo Hội cho con người.

Tất cả sức sống thường chìm sâu ấy, Đức Gio-an Phao-lô, bằng sự chết của mình, đã làm cho xuất hiện. Không phải ngẫu nhiên mà chung quanh linh cữu Ngài, thế giới đã mang một nét mặt mới. Tổng thống Mỹ Bush với tổng thống Iran Khatami ngày thường vẫn coi nhau là hiện thân của gian tà, ở đây cùng cúi đầu cầu nguyện. Thủ tướng Palestin Qurei nói Đức Gio-an Phao-lô là bạn của dân tộc Palestin, thì thủ tướng Israel Sharon cũng nói Đức Gio-an Phao-lô là bạn của dân tộc Israel. Tổng thống Israel Kastav và tổng thống Syri Bashar Al Assad có thể coi là kẻ tử thù của nhau lại bắt tay nhau. Tín đồ Hồi Giáo và tín đồ Do-thái Giáo sát cánh với nhau.

Cứ coi các hình ảnh hòa bình đẹp đẽ ấy chỉ là một thoáng phù du trong cái thế giới nhiều biến loạn này, thì vẫn cần cảm tạ Đức Gio-an Phao-lô đã tạo nên cái phép lạ ấy. Sự kiện ấy tự nó có tính cách ngôn sứ. Có thể đấy chưa phải là hiện thực hôm nay, nhưng sao chẳng là ước vọng tương lai trong lòng những người lãnh đạo cũng như vô số dân thường?

Lại một lần nữa Đức Gio-an Phao-lô cho thấy những hoa trái Ngài đã thu lượm trên đường dài đi tìm hòa bình. Những buổi cầu nguyện Liên Tôn như ở Assisi, những lúc Ngài cởi giầy bước vào một Đền Thờ Hồi Giáo hay đặt một lời cầu nguyện vào Bức Tường Than Khóc ở Giê-ru-sa-lem đều là những chặng đường tiếp nối cho những bước khởi hành mà Ngài đã minh họa bằng biểu tượng trong Năm Thánh 2000 khi Ngài muốn đặt bước chân hành hương dọc Lịch Sử Cứu Độ từ núi Xi-nai, qua Bê-lem và Giê-ru-sa-lem, đến lộ trình của Thánh Phao-lô. “Bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho anh em ở gần” (Ep 2,17). Bên linh cữu Ngài, những anh em thù nghịch được trở nên tông đồ rao giảng hòa bình.

Còn một nhóm tông đồ rao giảng nữa cũng cần nhắc đến, đó là các phương tiện truyền thông: báo chí, truyền thanh, truyền hình. Từ khi Đức Gio-an Phao-lô lâm bạo bệnh cho đến khi an táng Ngài, họ làm như thể trên thế giới chỉ còn một đề tài đáng nói: Đức Gio-an Phao-lô. Cũng không ngờ những kênh truyền thông ấy lại biến thành những nhà giảng thuyết trong suốt một tuần lễ. Đài RAI của nước Ý vẫn thường truyền hình trực tiếp các Thánh Lễ, nhưng ngoài những lúc đó ra vẫn có nhiều nội dung phù phiếm linh tinh. CNN hay TV5 là những đài hết sức thế tục. Thậm chí đài Al Jazeera là của các nước A Rập vùng Vịnh vốn rất hà khắc đối với Ki-tô Giáo. Tất cả họ đều quan tâm đến sứ điệp của Đức Gio-an Phao-lô. Những đài ấy đưa hình ảnh, đưa tâm hồn và hoa trái của Đức Gio-an Phao-lô đến tận những nơi chẳng có bước chân thừa sai nào chạm đến.

Tóm lại, từ khách hành hương đến các nhà chính trị, đến các giới truyền thông, mỗi người mỗi cách đều đã thành những nhà rao giảng.

Trong Cựu Ước, sách Dân Số có đoạn thuật truyện ông Mô-sê mỏi mệt vì nặng gánh Ít-ra-en. Ông phàn nàn với Đức Chúa: “Nào tôi có sinh chúng ra đâu, mà Ngài lại bảo tôi: Hãy bồng lấy nó vào lòng như vú nuôi bồng con đỏ mà đem nó vào Đất Ta đã thề hứa…”

Ya-vê phán với Mô-sê: Hãy triệu tập cho Ta bảy mươi người… Ngươi sẽ đem chúng đến trướng Tao Phùng và chúng sẽ đứng trực ở đó với ngươi. Ta sẽ xuống và ở đó Ta sẽ phán bảo ngươi, Ta sẽ rút Thần Khí ở nơi ngươi mà đặt trên chúng, và chúng sẽ gánh vác với ngươi gánh nặng dân này”…

Mô-sê triệu tập bảy mươi người… và ông đặt họ đứng xung quanh trướng. Ya-vê xuống trong đám mây và phán bảo ông, Ngài trút Thần Khí ở nơi ông mà đặt trên bảy mươi vị. Mà thoạt khi Thần Khí đậu xuống trên họ, họ liền nói tiên tri…

Có hai người còn lại trong trại, tên là En-đát và Mê-đát. Thần Khí đậu xuống trên họ… và họ đã nói tiên tri trong trại… Yô-sua, con của Nun, tôi bộc của Mô-sê… cất tiếng nói: “Thưa đức ông Mô-sê, xin ngăn cản họ lại!” Nhưng Mô-sê bảo: “Vì ta, ngươi sinh ghen tuông sao? Phải chi toàn dân Ya-vê đều được nói tiên tri, bởi được Ya-vê ban Thần Khí xuống trên họ” ( Ds 11, 12 – 29 ).

Còn ngôn sứ Giô-en tuyên sấm rằng:

Thiên Chúa phán: “Trong những ngày sau hết,

Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên mọi xác phàm.

Và con trai, con gái các ngươi sẽ tuyên sấm.

Thanh niên các ngươi sẽ thấy thị kiến,

Kẻ già lão các ngươi sẽ chiêm điềm mộng…

Và mọi kẻ kêu danh Chúa sẽ được cứu…”

ST

330998 top -
Chia sẻ, Giao lưu
************************

Những công trình mà Giáo Hội cống hiến cho nhân loại

Chủ nghĩa thế tục hóa và chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân được cổ súy mỗi ngày một mạnh mẽ qua các phương tiện truyền thông của thời kỹ thuật số đang tìm cách hạ uy tín của Giáo Hội Công Giáo – chứng nhân của Chân Lý, Hy Vọng và Niềm Hạnh Phúc Vĩnh Hằng - là khuynh hướng của thế giới ngày hôm nay. Nhân loại không biết rằng, nền văn minh tiến bộ ngày hôm nay họ đang hưởng dùng đều bắt nguồn từ Giáo Hội Công Giáo như người tiên phong mở đường đưa họ đến những chân trời mới lạ… Bài viết dưới đây của Cha Andrew Pinsent cho thấy điều đó…

Cha Andrew Pinsent, tác giả của bài viết này, là một Linh Mục của giáo phận Arundel và Brighton và là Giám Đốc Nghiên Cứu của Trung tâm Khoa Học và Tôn Giáo Ian Ramsey tại Đại học Oxford. Cha nguyên là một nhà vật lý phân tử tại CERN [1]. Cha cũng là người đồng sáng lập cùng với Cha Marcus Holden, thành lập Dự Án Rao Giảng Tin Mừng (Evangelium Project), nhằm để nâng cao chất lượng giáo dục Công giáo. (Xin tham khảo thêm website của dự án này ở http://www.evangelium.co.uk.)

Giới thiệu

Tại một cuộc tranh luận gần đây được BBC phát sóng trên toàn thế giới, có hơn 87 phần trăm khán giả đã bác bỏ quan điểm cho rằng Giáo Hội Công Giáo không phải là một tổ chức tích cực trên thế giới. Mặc dù những người bênh vực Giáo Hội ra sức đương đầu với những thách thức, khó khăn của chiều kích toàn cầu hóa và hưởng thụ hóa, tuy thế, phần lớn dư luận cho rằng cuộc bình chọn trên phản ánh một thái độ thay đổi đối với Kitô Giáo nói chung và niềm tin Công Giáo nói riêng. Nói thẳng ra không cần úp mở, trong thời gian trước đây, mọi người xem Giáo Hội chúng ta tốt đẹp, còn bây giờ, chúng ta ngày càng bị xem là xấu xa, tiêu cực. Kết quả là, việc giảng dạy đức tin và bảo vệ đạo đức Kitô Giáo thật sự đã trở nên khó khăn hơn nhiều tong thời đại hôm nay.

Để giải quyết thách đố trên nơi chính gốc rễ của nó, tôi tin rằng đây là điều tối quan trọng, là chúng ta phải luôn tự khẳng định chính mình về niềm tin Công giáo là một thực tại tốt đẹp trên thế giới. Chúa Giêsu nói: "Người ta sẽ biết các con bằng hoa trái việc làm của các con”, và thậm chí cả một số người ở bên ngoài Giáo Hội đánh giá rất cao thành quả mà Giáo Hội có được. Trong năm 2007, ví dụ, một doanh nhân vô thần, ông Robert Wilson, đã tặng 22.500.000 $ (tức khoảng 13.500.000 £) cho việc giáo dục Công giáo tại New York, và ông cho rằng, "không có Giáo Hội Công Giáo, sẽ không có nền văn minh phương Tây."

Lấy cảm hứng từ cái nhìn sâu sắc của doanh nhân vô thần Robert Wilson, gần đây tôi đã làm việc chung với cha Marcus Holden, linh mục chánh xứ của Ramsgate và là tuyên úy tại Maryvale, bằng cách đối chiếu những đóng góp đặc biệt mà văn hóa và tinh thần Công giáo mang lại cho con người. Những phần dưới đây cho thấy sự đóng góp này thật là vô giá mà bất kỳ ai cũng đều phải chân nhận điều đó khi phải đối mặt với câu hỏi: " Giáo Hội đã từng làm cho chúng ta những điều gì?”

Để hiểu hơn về những thành quả mà Đức Tin Công giáo đã mang lại cho nhân loại trong nhiều lĩnh vực khác, xin các bạn xem Lumen: “Quà Tặng Công Giáo cho Nền Văn Minh” (The Catholic Gift to Civilization), được Hội Sự Thật Công Giáo xuất bản vào tháng 1 năm 2011.

1. Ánh sáng và vũ trụ

Tác phẩm nổi tiếng Maius Opus (năm 1267) [2] của một thầy dòng Thánh Phanxico, Thầy Roger Bacon, (mất năm 1292), được viết theo yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Clement IV, bắt đầu khai mở một khoa quang học truyền thống trong thế giới La-tinh. Những cặp kính đeo mắt đầu tiên đã được phát minh ở Ý vào khoảng năm 1300, và một trong những ứng dụng của thấu kính đó sau này được phát triển thành kính viễn vọng và kính hiển vi.

Rất nhiều người nghĩ Galileo (chết năm 1642) do bị bức hại, họ có xu hướng không quan tâm đến những hoàn cảnh đặc thù của sự kiện này, thực tế là nhà bác học Galileo không bị hành hình và bị thiêu chết trên giàn hỏa như nhiều người nghĩ, nhưng nhà bác học đã chết trong nhà của mình, và con gái của nhà bác đã trở thành một nữ tu.

Lịch Gregorian (được phát kiến năm 1582), nay được sử dụng trên toàn thế giới, là một thành quả phát minh bởi nhà thiên văn học Công Giáo, và công trình vật lý thiên văn nghiên cứu quang phổ do Cha Angelo Secchi (mất năm 1878) đã phát minh và để lại cho nhân loại.

Công trình đáng kể nhất về nghiên cứu vũ trụ, đó chính là vụ nổ Big Bang, một lý thuyết quan trọng nhất của vũ trụ học hiện đại, được phát minh bởi một linh mục Công giáo, Cha Georges Lemaitre (mất năm 1966), thực tế về phát minh lịch sử này, đài BBC gần như không bao giờ đề cập, hay được nói đến trong các sách khoa học phổ biến.

2. Trái đất và Thế Giới Tự Nhiên

Nền văn minh Công giáo đã góp phần đáng kể vào việc tầm tra khoa học và vẽ bản đồ của trái đất, do Giáo Hội Công Giáo khích lệ những nhà thám hiểm thế giới vĩ đại như Marco Polo (mất năm 1324), Hoàng tử Henry the Navigator (mất 1460), Bartolomeu Dias (mất năm 1500), Christopher Columbus (mất năm 1506 ) và Ferdinand Magellan (mất năm 1521). Chẳng những không tin vào lý thuyết thế giới bằng phẳng như cái dĩa, những nhà thám hiểm người Công giáo này còn có công mang đến cho nhân loại một bản đồ khoa học đầu tiên: bản đồ Padrón Real của Diogo Ribeiro (mất năm 1527). Cha Nicolas Steno (mất năm 1686) là người sáng lập của các môn địa tầng học, giải thích các tầng lớp đá là một trong những nguyên tắc về địa chất học.

Nhà bác học Jean-Baptiste Lamarck (mất năm 1829), một người Công giáo Pháp, lập ra lý thuyết đầu tiên của sự tiến hóa, bao gồm những khái niệm về sự biến đổi của các loài và sự liên hệ giữa các loài thể hiện qua cây phả hệ. Tu sĩ Augustine Gregor Mendel (mất năm 1884) lập ra khoa di truyền học dựa trên việc nghiên cứu tỉ mỉ các đặc tính di truyền của khoảng 29.000 loại thực vật họ đậu

3. Triết học và Thần học

Công Giáo xem triết học, theo như bản chất của chính bộ môn này, thật thích hợp và có ích lợi cho việc phát triển trí năng đồng thời là một bộ phận không thể thiếu được để xây dựng môn thần học là môn học ứng dụng lý trí để có thể lãnh hội được những thực tại thuộc thế giới siêu nhiên. Những cây đại thụ của triết học Công Giáo có Thánh Augustine (mất năm 430), Thánh Thomas Aquinas (mất năm 1274), Thánh Anselm (mất năm 1109), Chân Phước Duns Scotus (mất 1308), triết gia Suárez (mất 1617) và triết gia Blaise Pascal (mất 1662). Những triết gia Công Giáo gần đây có Thánh Edith Stein (mất năm 1942), triết gia Elizabeth Anscombe (mất 2001) và triết gia Alasdair MacIntyre… Trên cơ sở đó, Công Giáo tin tưởng Thiên Chúa là Thiên Chúa của lý trí và tình yêu. Người Công giáo đã bảo vệ tính vẹn toàn của con người đối với thế giới vật chất, nguyên lý nền tảng sự hiện hữu của thế giới sinh vật và vật chất, nguyên nhân tối hậu của những hành động, ý chí tự do, vai trò của các nhân đức trong vấn đề hạnh phúc, mục đích tốt và xấu, luật tự nhiên và nguyên tắc tương hợp - không mâu thuẫn… Những nguyên tắc này đã có một ảnh hưởng khôn lường trên đời sống trí thức và văn hóa của nhân loại cho đến ngày hôm nay.

4. Giáo dục và hệ thống các trường đại học

Có lẽ sự đóng góp lớn nhất và độc đáo nhất về giáo dục mà Công Giáo mang lại cho nền văn minh nhân loại là sự phát triển của hệ thống trường đại học. Các trường đại học Công Giáo có sớm nhất bao gồm Đại Học Bologna (thành lập năm 1088); Đại Học Paris (1150), Đại Học Oxford (1167); Đại Học Salerno (1173); Đại Học Vicenza (1204), Đại Học Cambridge (1209); Đại Học Salamanca (1218-1219); Đại Học Padua (1222); Đại Học Naples (1224) và Đại Học Vercelli (1228). Đến giữa thế kỷ 15 (hơn 70 năm trước khi thời kỳ Cải Cách), đã có trên 50 trường đại học Công Giáo ở châu Âu.

Rất nhiều trường trong số các trường đại học này, chẳng hạn như Đại Học Oxford, vẫn còn đó những dấu hiệu nguồn gốc Công Giáo của mình, ví dụ như cái huy hiệu bốn cạnh tượng trưng cho Thánh Giá được treo trên khắp các hành lang quanh Đại Học giống như trong các tu viện, lối kiến trúc Gothic với rất nhiều nhà nguyện. Ngay từ thế kỷ thứ sáu, Công Giáo ở Châu Âu đã hình thành và phát triển một hệ thống giáo dục mà sau này được gọi là trường học ngữ pháp, và trong thế kỷ 15, hệ thống in ấn báo chí được phát triển và ứng dụng trong các trường học đã mang lại những lợi ích khôn lường cho việc giáo dục. Ở thời điểm hiện tại ngày hôm nay, người ta ước tính rằng các trường học Công Giáo đang giáo dục và đào tạo cho hơn 50 triệu sinh viên trên toàn thế giới.

5. Nghệ thuật và kiến trúc

Niềm tin vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, Ngôi Lời mang lấy xác thể, và Hy Tế của Thánh Lễ đã trở nên nguồn cảm hứng bất tận làm phong phú cho việc Giáo Hội Công Giáo đóng góp cách đặc biệt vào lãnh vực nghệ thuật và kiến trúc. Những đóng góp này bao gồm: các Đại Thánh Đường ở Rô-ma; các tác phẩm của Giotto (mất 1337), người đã khởi xướng chủ nghĩa hiện thực trong hội họa qua các bức tranh “Những Chặng Đàng Thánh Giá của Anh Em Tu Sĩ Dòng Thánh Phan-xi-cô”, đã truyền cảm hứng cho loại hình nghệ thuật ba chiều và phim truyền hình, kịch nghệ ngày nay; việc phát minh loại hình hội họa nghệ thuât phối cảnh không gian ba chiều xuất phát từ một điểm quy chiếu mà ta gọi là điểm tuyến tính phối cảnh do một người Công Giáo tìm ra, đó là họa sĩ Brunelleschi (mất năm 1446); và các công trình nổi tiếng của thời kỳ Phục Hưng vẫn còn đó trong các viện bảo tàng ở Châu Âu.

Loại thứ hai bao gồm các tác phẩm của Chân Phước Fra Angelico (mất năm 1455), mà hôm nay người ta chọn làm vị thánh bảo trợ nghệ thuật; và công trình vô song của danh họa Leonardo da Vinci (mất 1519), danh họa Raphael (mất 1520), danh họa Caravaggio (mất 1610,), danh họa Michelangelo ( mất 1564) và danh họa Bernini (mất 1680). Rất nhiều công trình nghệ thuật của những nghệ sĩ này, chẳng hạn như bức bích họa trên trần nhà nguyện Sistine, được coi là một trong những công trình nghệ thuật lớn nhất của mọi thời đại. Giáo Hội Công Giáo cũng để lại các loại hình tổng thể kiến trúc rất độc đáo, ví dụ như kiểu Byzantine, kiểu xây dựng Romanesque, kiểu kiến trúc Gothic, kiểu nhà thờ Phục Hưng và kiểu kiến trúc Baroque. Bức tượng Chúa Ki-tô Cứu Thế (Cristo Redentor) [4] ở Brazil và Vương Cung Thánh Đường Sagrada Familia ở Barcelona cho thấy rằng đức tin Công Giáo vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng bất tận cho nền nghệ thuật và kiến trúc truyền thống mọi thời.

6. Pháp Luật và Luật Học

Những cải cách của Đức Giáo Hoàng Gregory VII (mất năm 1085,) cũng tạo nên động lực để hình thành những bộ luật của Giáo Hội và của các quốc gia Châu Âu. Việc ứng dụng những nguyên tắc của triết học vào pháp luật, cùng với các công trình nghiên cứu rất đáng trân trọng của các tu sĩ ở thế kỷ thứ 12, đã tạo ra một bộ luật hoàn chỉnh và có tính khoa học đầu tiên mà trong đó tất cả điều khoản, các phần được xem như là tương hợp với nhau trong một tổng thể chung. Cuộc cách mạng này dẫn đến việc thành lập các trường luật, bắt đầu tại trường Đại Học Bologna (1088), từ đó nghề luật nổi lên, và khái niệm như "tổ chức pháp nhân", “cơ quan”, “tổ chức”… rồi đến các cơ sở pháp lý của một loạt các cơ quan chẳng hạn như các trường đại học, các công ty và quỹ tín thác… xuất hiện trong vài thập niên cách đây…. Những nguyên tắc pháp lý như "thiện ý", tôn trọng quyền lợi, bình đẳng trước pháp luật, luật pháp quốc tế, xét xử, bồi thẩm đoàn, lệnh đình chỉ bắt giam, và việc bắt buộc phải chứng minh sự hồ nghi tội phạm vượt quá khả năng phạm tội…v..v… đó là tất cả những thành quả của nền văn minh và khoa luật pháp mà Công Giáo mang đến cho thế giới.

7. Ngôn Ngữ

Việc nhấn mạnh tiếng Hy Lạp và tiếng La-tinh trong truyền thống Công Giáo đã tạo ra nhiều thuận lợi cho việc phổ biến khả năng đọc viết cho mọi người, vì khi bảng chữ cái được phát minh thật sự đã làm cho việc đọc và viết dễ dàng hơn so với ngôn ngữ mang nhiều hình tượng, chẳng hạn như tiếng Trung Quốc. Sự mở rộng công việc truyền giáo mà Giáo Hội Công Giáo có nhiệm vụ phải thực hiện theo lệnh Chúa Giê-su, và những cuộc thăm dò, thám hiểm đã làm cho bảng chữ cái Latinh được ứng dụng rộng rãi trong các hệ thống chữ viết trên khắp thế giới. Công Giáo cũng phát triển các bản chữ cái tiếng Armenia, Georgia và Cyrillic, và những bản chữ in tiêu chuẩn, như bản Carolingian khổ rất nhỏ ngay từ thế kỷ thứ 9 đến thể kỷ 12, và cả bản chữ in Gothic (từ thế kỷ 12). Công Giáo cũng tạo nên một cái khung nền cho các tác phẩm văn hoá như Divina Commedia (Thiên Sử Thi do Dante viết) [5], Cantar de Mio Cid (Câu Chuyện và Truyền Thuyết về Một Quý Tộc thời Trung Cổ) và La Chanson de Roland (Bài Ca của Roland), và rất nhiều tác phẩm bằng tiếng địa phương đã tác động đến sự phát triển của Ý, Tây Ban Nha và Pháp cách đáng kể. Bài Vinh Tụng Ca Công Giáo của Cædmon [6] viết vào thế kỷ thứ bảy được cho là văn bản tiếng Anh cổ lâu đời nhất còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Valentin Haüy (mất năm 1822), anh trai của Abbé Haüy (là một linh mục, người phát minh ra tinh thể học), thành lập ngôi trường học đầu tiên cho người mù. Sinh viên nổi tiếng nhất của trường này, Louis Braille (mất năm 1852) [7], đã phát triển một hệ thống chữ cho người mù học mà ngày nay trên toàn thế giới hệ thống chữ dành cho người mù này mang tên ông.

8. Âm Nhạc

Xuất phát từ âm nhạc phụng tự của những người Do Thái từ thời Cựu Ước, Công giáo hầu như phát minh ra nền văn minh truyền thống âm nhạc phương Tây. Thể loại Bình Ca Đơn Âm Gregorian (Monophonic Gregorian chant) dùng trong phụng vụ Rô-ma phát triển từ thế kỷ thứ sáu. Những phương pháp ký âm giai điệu đã làm phát sinh ra những khái niệm âm nhạc (như ký hiệu khuông nhạc) mang đến những lợi ích không đếm xuể cho việc ghi chép các tác phẩm âm nhạc, và hệ thống thang âm “ut-re-mi” (do-re-mi) là công trình của một tu sĩ dòng Benedictine, Thầy Guido of Arezzo (mất năm 1003). Từ thế kỷ thứ 10, các trường phái thánh ca phát triển âm nhạc đa âm, sau này mở rộng đến 40 âm (Tallis, Spem in Alium) và thậm chí đến 60 âm (Striggio, Missa Sopra Ecco).

Các thể thể loại âm nhạc mà hầu như phần lớn, hoặc toàn bộ đều bắt nguồn từ nền văn minh Công Giáo bao gồm các bài thánh ca, các thể loại diễn xướng và nhạc kịch opera. Nhạc sư Haydn (mất 1809), một người Công giáo mộ đạo, đã định hình cách vững chắc cho sự phát triển của các bài giao hưởng và bộ tứ tấu đàn dây (violon, viola, cello và bass). Qua sự bảo trợ của Giáo Hội và việc khích lệ các hình thức phụng vụ, nhiều công trình tác phẩm vĩ đại được hình thành bởi các nhạc sĩ bậc thầy như Monteverdi (mất năm1643), Vivaldi (mất năm 1741), Mozart (mất năm 1791) và Beethoven (mất năm 1827). Bản nhạc Đại Giao Hưởng số 8 của Mahler (mất năm 1911) lấy chủ đề và nguồn cảm hứng từ bài thánh ca cổ xưa của Lễ Ngũ Tuần, Veni creator Spiritus.

9. Chỗ đứng của phụ nữ

Trái với định kiến thông thường trọng nam khinh nữ, nền văn minh Công Giáo coi trọng và đề cao những phụ nữ nổi tiếng và có ảnh hưởng. Giáo Hội đã tôn vinh nhiều vị thánh nữ, kể cả những vị thánh nữ tiến sĩ gần đây của Giáo Hội, và tỏ lòng quý trọng các nữ tu tuyệt vời, chẳng hạn như Thánh nữ Hilda (mất năm 680) (về sau trường học của Thánh nữ Hilda lập, được đặt tên là Oxford) và Chân Phước Hildegard von Bingen (mất năm 1179), là nữ tu viện trưởng và là một người uyên bác. Những phụ nữ Công giáo đi tiên phong trong lãnh vực chính trị có Hoàng hậu Matilda (mất 1167), nữ quận chúa Eleanor của Aquitaine, một người giàu có, quyền lực và nhân ái (mất năm 1204) và Nữ hoàng đầu tiên của nước Anh, Mary Tudor (mất năm 1558).

Công giáo cũng mang đến cho nền văn minh nhân loại nhiều nhà khoa học và giáo sư đầu tiên của thế giới là những phụ nữ: nữ giáo sư vật lý người Ý, Trotula của thành Salerno trong thế kỷ 11, và nữ giáo sư vật lý người Ý, Dorotea Bucca (mất năm 1436), là người đã giữ ghế giáo sư y khoa tại Đại học Bologna, nữ triết gia Elena Lucrezia Piscopia thành Venice (mất năm1684), lần đầu tiên người phụ nữ nhận được một văn bằng Tiến sĩ Triết học (1678) và Maria Agnesi (d 1799), một triết gia, một nhà ngữ học và toán học là người phụ nữ đầu tiên được Đức Giáo Hoàng Benedict XIV chỉ định trở thành giáo sư toán học đầu tiên tại Ý vào năm 1750.

By Philip Tran chuyển ngữ,

Theo nguồn http://www.catholicherald.co.uk

____________________________________________

Chú thích

[1] CERN được bắt nguồn từ các từ viết tắt tiếng Pháp: Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire, một cơ thể thành lập năm 1952 với nhiệm vụ thành lập một tổ chức nghiên cứu vật lý cơ bản với tầm cỡ thế giới đặt ở châu Âu. (http://angelsanddemons.cern.ch/)

[2] Tác phẩm Majus Opus (Latinh có nghĩa là "Đại công trình") là công trình quan trọng nhất của Roger Bacon (c. 1214–1294). Nó được viết bằng tiếng Latin trung cổ, theo yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Clement IV, để giải thích những công việc mà Bacon đã thực hiện. Cuốn tổng luận dày 840 trang bàn về tất cả các khía cạnh của khoa học tự nhiên, từ ngữ pháp và logic cho đến toán học, vật lý, và triết học. Tác phẩm Bacon đã được gửi đến Đức Giáo Hoàng trong năm 1267, kèm theo một lá thư ông bày tỏ sự cống hiến đó, đã được tìm thấy bởi FA Gasquet tại Thư viện Vatican và đã được xuất bản vào năm 1897.

[3] Lịch Gregorian, còn được gọi là lịch phương Tây, hoặc lịch Kitô giáo, là lịch quốc tế, được cải cách từ lịch Julian kết hợp với chu kỳ của mặt trăng để tính ngày Lễ Phục Sinh. Nó được giới thiệu bởi Giáo hoàng Gregory XIII, mà sau này người ta dùng tên ngài để đặt tên cho lịch này. Lịch được cải cách, thông qua năm 1582 bởi một số quốc gia, và lịch này được dùng cho đến ngày nay.

[4] Bức tượng Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc (tiếng Bồ Đào Nha: Cristo Redentor) được làm bằng bê tông cốt thép kết hợp với đá, và được xây dựng giữa năm 1922 và 1931. Bức tượng đặt ở thành phố Rio de Janeiro, Brazil; được coi là một công trình nghệ thuật lớn thứ hai trên thế giới. Tượng cao 39,6 mét (khoảng 130 feet), bao gồm: bệ có chiều cao là 9,5 mét, hai cánh tay giang rộng 30 mét, nặng 635 tấn và được đặt tại đỉnh núi Corcovado cao 700 mét (khoảng 2.300 feet) trong rừng Vườn Quốc Gia Tijuca nhìn ra thành phố Rio de Janeiro. Bức tượng đã trở thành một biểu tượng Ki-tô Giáo của thành Rio de Janeiro và của nước Brazil.

[5] The Divine Comedy (Italian: Divina Commedia), được Dante Alighieri (1256–1308) viết vào khỏang 1308 cho đến trước khi ông ta chết 1321. Bài thơ sử thi đồ sộ này được coi là trung tâm của văn học Ý, và là công trình vĩ đại nhất của văn học thế giới. Tầm nhìn và trí tưởng vô cùng phong phú cùng những ngụ ngôn trong bài thơ của một tín hữu Công Giáo là một cái nhìn tột bậc về thế giới trung cổ cũng như sự phát triển của Giáo Hội Công Giáo. Được thiết lập trên phương ngữ của tiếng Tuscan và viết theo chuẩn mực của tiếng Ý, bài sử thi này gồm hơn 14.000 dòng được chia làm 3 phần Inferno (Hỏa Ngục), Purgatorio (Luyện Ngục), và Paradiso (Thiên đàng).

[6] Cædmon (mất năm 680) là nhà thơ người Anh đầu tiên được thế giới biết đến. Cædmon cũng là một tu sĩ nhiệt thành và một nhà thơ đầy cảm hứng tôn giáo. Cædmon là một trong mười hai nhà thơ Anglo-Saxon được biết đến trong thời trung cổ. Công trình hiện còn lại của Cædmon, bài “Cædmon’s Hymn”, là bài thơ khen ngợi, vinh danh Thiên Chúa. Bài thơ là một trong những ví dụ chứng tỏ sự xuất hiện của tiếng Anh rất sớm

[7] Louis Braille, sinh ngày 4 tháng 1 năm 1809 tại Coupvray (gần Paris), Pháp, mất ngày 6 tháng 1 năm 1852, là người phát minh ra kiểu chữ Braille dành cho người mù và người khiếm thị. Cha ông, ông Simon-René Braille, là thợ sản xuất yên và cương ngựa. Năm lên ba tuổi, Louis bị thương ở mắt trái do bị dùi đâm phải. Vết thương bị nhiễm trùng và lây sang mắt phải, khiến Braille bị mù hoàn toàn. Vào năm mười tuổi, ông giành được học bổng đi học tại Học viện Hoàng gia dành cho Thanh niên mù (ngày nay là Học viện Quốc gia dành cho thanh niên mù) tại Paris. Ở trường, những đứa trẻ được học đọc các ký tự in nổi nhưng không thể học viết do các ký tự được tạo thành do những trang giấy ép lên sợi dây đồng.

Đến năm 13 tuổi, ông phát minh ra hệ thống các dấu chấm nổi, nhờ ý tưởng qua cuộc viếng thăm của ông Đại úy về hưu Charles Barbier của Serre, người đã phát triển một hệ thống chữ viết cho phép người ta trao đổi mệnh lệnh quân đội trong đêm tối. Hệ thống này dựa trên mười hai chấm, do đó nó khá phức tạp, còn hệ thống của Braille chỉ sử dụng có sáu chấm. Braille còn cải tiến hệ thống của mình để viết được cả ký hiệu toán học và nhạc lý.



Đức Thánh Cha nói: Tính dục là quà tặng của Thiên Chúa để bầy tỏ tình yêu chân chính
Bùi Hữu Thư17/05/2011

VATICAN (CNS) -- Đức Thánh Cha Benedict XVI nói thân thể con người là một dụng cụ Chúa ban để bầy tỏ tình yêu, mặc dầu cũng có thể được dùng để gây nguy hại cho người khác hay để tạo khoái cảm một cách ích kỷ cho riêng cá nhân mình.

Đức Thánh Cha nói với các tham dự viên trong một buổi họp được Học Viện Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Hôn Nhân và Gia Đình bảo trợ: Sự việc thân thể được tạo dựng cho tình yêu chân thật, chính là điều đem lại giá trị cho sự trong sạch là đức tính coi trọng năng lực của thân thể để bầy tỏ một cái gì thật sâu thẳm nếu được tôn kính và giúp cho có thời gian cần thiết.

Đức Thánh Cha gặp gỡ nhóm người này ngày 13 tháng Năm nhân dịp kỷ niệm năm thứ 30 ngày Học Viện được Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thành lập.

Cố Đức Giáo Hoàng khuyến khích học viện này nghiên cứu và cổ võ những gì đã được mô tả là "thần học về cơ thể" của ngài.

Đức Thánh Cha Benedict nói với nhóm người này là "bằng cách nối kết thần học của cơ thể với thần học của tình yêu" họ có thể giúp người Công Giáo đạt được sự hiểu biế rõ ràng hơn về mục đích của đời sống của họ.

Đức Thánh Cha nói: "Sự hấp dẫn chính thực của tính dục xuất phát từ sự cao cả của chân trời được mở rộng ra: vẻ đẹp trọn vẹn, vũ trụ của người phối ngẫu và tình trạng 'có đôi' nẩy sinh từ sự kết hợp giữa hai người nam và nữ, sự hứa hẹn về hiệp thông được che dấu ở đây, sự mang lại hoa trái mới, hành trình mà tình yêu mở ra để đến với Chúa, là nguồn tình yêu.
Philip Tran

331078 top -

@shynev.

Có chuyện gì cần trao đổi chia sẻ hoặc nhắn tin vào đây nhé

-Cho đ/c email để chú forward email của Cha Long lấy tư liệu LTX post bài

331161 top -
@langvan : email của cháu à. của cháu thì là ; william_kelvin_15@yahoo.com , còn của Cha Long thì cháu không biết ạ. Để cháu hỏi dùm chú.

331165 top -
@shynev.
Cám ơn cháu. Chú với Cha Long liên lạc hằng ngày mà,

331171 top -

@sauhai,

Dạo này khoẻ không Anh, hơi lâu lâu rồi không găp. Hồi sáng này Em có gởi tin nhắn cho anh nhờ anh giúp cho GDCG mình với mảng Thánh ca.

Cám ơn cộng tác với anh em
Xin Chúa chúc lành cho Anh và gia đình anh

331181 top -
Image



Giáo Hội Công Giáo cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn, nhất là cám dỗ 'Giáo Hội tự trị'.
Ngỏ lời trước hàng chục ngàn tín hữu hành hương vào cuối buổi tiếp kiến chung sáng 18-5-2011 tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC nói:

“Trong mùa Phục Sinh, Phụng Vụ hát mừng Chúa Kitô sống lại từ cõi chết, chiến thắng sự chết và tội lỗi, sinh động và hiện diện trong đời sống Giáo Hội và trong những biến cố của thế giới. Tin Mừng Tình Yêu Thiên Chúa, được biểu lộ trong Chúa Kitô, Chiên Con bị hiến tế, Mục Tử Nhân Lành hiến mạng sống vì đoàn chiên, không ngừng lan rộng cho đến tận bờ cõi trái đất, và đồng thời cũng gặp phải sự khước từ và chướng ngại ở các nơi trên thế giới. Ngày nay, cũng như xưa kia, từ Thập Giá tiến đến Phục Sinh.

Thứ ba, 24-5, là ngày phụng vụ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Đấng Phù Hộ các tín hữu Kitô, được tôn kính với lòng sùng mộ nồng nhiệt tại Đền Thánh Xà Sơn ở Thượng Hải: toàn thể Giáo Hội hiệp ý cầu nguyện với Giáo Hội tại Trung Quốc. Tại đó, cũng như ở nơi khác, Chúa Kitô đang sống trong cuộc khổ nạn của Ngài. Trong khi gia tăng con số những người đón nhận Ngài là Chúa, thì Chúa Kitô cũng bị những người khác phủ nhận, làm ngơ không biết đến hoặc bách hại: “Saolô, Saolô, sao ngươi bách hại Ta?” (Cv 9,4). Giáo Hội tại Trung Quốc, nhất là trong lúc này, đang cần lời cầu nguyện của Giáo Hội hoàn vũ. Trước tiên, tôi mời gọi tất cả các tín hữu Công Giáo Trung Hoa tiếp tục và tăng cường việc cầu nguyện, nhất là với Đức Maria, Trinh Nữ hùng mạnh. Nhưng đối với tất cả các tín hữu Công Giáo trên thế giới, việc cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Quốc cũng là một nghĩa vụ: các tín hữu tại Trung Quốc có quyền được chúng ta cầu nguyện, họ đang cần lời cầu nguyện của chúng ta.”

“Qua sách Tông Đồ công vụ, chúng ta biết rằng, khi Phêrô bị cầm tù, tất cả mọi người đã mạnh mẽ cầu nguyện và đã được một thiên thần đến giải thoát cho thánh nhân. Cả chúng ta cũng làm như vậy: tất cả cùng nhau hãy sốt sắng cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Quốc, với niềm tín thác rằng, nhờ lời cầu nguyện, chúng ta có thể làm một cái gì đó rất thực tế cho Giáo Hội tại nơi đó.

“Như tôi đã nhiều lần nói, các tín hữu Công Giáo Trung Quốc muốn được hiệp nhất với Giáo Hội hoàn vũ, với vị Chủ Chăn tối cao, với Người kế vị thánh Phêrô. Qua kinh nguyện chúng ta có thể xin cho Giáo Hội tại Trung Quốc được tiếp tục là duy nhất, thánh thiện và công giáo, trung thành và kiên cường trong đức tin và trong kỷ luật của Giáo Hội. Giáo Hội ấy đáng được tất cả lòng quí mến của chúng ta.

“Chúng ta biết rằng, trong số các anh em Giám Mục của chúng ta, có một số vị đang chịu đau khổ và đang chịu sức ép trong việc thực thi sứ vụ Giám Mục của các vị. Chúng ta hãy bày tỏ sự gần gũi với các vị, với các linh mục và toàn thể tín hữu Công Giáo đang gặp khó khăn trong việc tự do tuyên xưng đức tin. Qua lời cầu nguyện, chúng ta có thể giúp đỡ họ tìm được con đường để duy trì đức tin sinh động, đức cậy mạnh mẽ, và đức ái nồng nhiệt đối với tất cả mọi người và bảo tồn nguyên vẹn giáo hội học mà chúng ta đã thừa hưởng từ Chúa và các Tông Đồ, và được trung thành truyền lại cho chúng ta cho đến ngày nay. Qua kinh nguyện, chúng ta có thể xin cho ước muốn của họ ở lại trong Giáo Hội duy nhất và hoàn vũ vượt thắng được cám dỗ đi theo một con đường độc lập khỏi Phêrô. Kinh nguyện có thể đạt được cho họ và cho chúng ta, niềm vui và sức mạnh loan báo và làm chứng tá với tất cả sự thẳng thắn và không bị cản trở về Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đánh và sống lại, Con Người Mới, đã chiến thắng tội lỗi và sự chết”.

Và ĐTC kết luận rằng: “Cùng với tất cả anh chị em, tôi cầu xin Mẹ Maria chuyển cầu để mỗi người trong các tín hữu Công Giáo tại Trung Quốc ngày càng sống phù hợp hơn với Chúa Kitô và ngày càng quảng đại hiến thân cho anh chị em mình. Tôi cầu xin Mẹ Maria soi sáng cho những người còn ở trong tối tăm, cảnh tỉnh những người lầm lạc, an ủi những người sầu khổ, củng cố những người bị rơi vào lòng những lời dua nịnh xu thời. Lạy Mẹ Maria, là Đấng Phù Hộ các tín hữu Kitô, là Đức Mẹ Xà Sơn, xin cầu cho chúng con!”

Trong bản tin truyền đi ngày 16-5-2011, hãng tin Asia News cho biết Ông Lưu Bách Niên, Chủ tịch danh dự của Hội Công Giáo yêu nước Trung Quốc, đe dọa rằng Hội này sẽ cho bầu và truyền chức cho 10 GM theo nguyên tắc “tam tự”, bất cần sự phê chuẩn của Tòa Thánh.

Một vụ tương tự đã xảy ra hồi tháng 11 năm 2010 và có 8 GM hiệp thông với ĐTC tham gia vụ truyền chức GM bất hợp pháp tại giáo phận Thường Đức. Đức TGM Savio Hàn Đại Huy SDB, người Hong Kong, Tổng thư ký Bộ truyền giáo, đã phê bình một số Giám Mục tại Trung Quốc, tuy được Tòa Thánh nhìn nhận. (SD 18-5-2011)

331325 top -
Nhà Thờ Nam Hải

Địa chỉ :277 Phạm Hùng, P.4 Quận 8

Chánh xứ:Linh mục Luca Trần Quang Tung

Tel : 38504206

Số giáo dân: 2000

Giờ lễ
Chúa nhật: 5:30 - 6:30 - 16:00 -18:00
Ngày thường: 5:00 - 17:00 - 19:30 (thứ 7)


Các nhà thờ lân cận :

Tư liệu : Lược sử Giáo xứ - Hình ảnh Giáo xứ

- Tin tức sinh hoạt
Nhà thờ Nam Hải

Bổn mạng nhà thờ: Đức Mẹ Mông Triệu
Kính ngày: 15-8
Số giáo dân: 2.000
Linh mục phụ trách:

Sinh hoạt Họ Đạo:

- Các lớp giáo lý: Rước lễ lần đầu, Thêm sức, Bao đồng.
- Xã hội từ thiện: Câu lạc bộ dưỡng sinh, Giáng Sinh, ngày Tết; nhà thờ phát qua cho người nghèo.

Lược sử:

Họ Nam Hải được thành lập 1956 với cha sở đầu tiên là linh mục Vinhsơn Nguyễn Văn Nhân và 1.000 giáo dân.

Ngôi nhà thờ được xây dựng năm 1965.

Các linh mục đã từng phụ trách Họ Đạo:

1. Linh mục Vinhsơn Nguyễn Văn Nhân
2. Linh mục Giacôbê Đặng Văn Doanh
3. Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Hùng Oánh.

(trích Niên Giám Giáo Phận TPHCM 1998)

.......................

Image
Năm thành lập Giáo xứ 1956
Image

331527 top -

Cảm ơn shynev sưu tầm những thông tin này, trước khi bấm Submit, shynev nên sắp xếp cho ngay hàng thẳng lối rồi post nhé, giữ gìn cho căn nhà lưôn sạch sẽ, chúc nhau bình an trong Chúa.

331529 top -
Chia sẻ, Giao lưu
***********************
NIỀM VUI LÀ TRAO TẶNG


Trải nghiệm trong cuộc sống cho chúng ta thấy, hiếm khi chúng ta hài lòng với mình, với người khác và với cuộc đời. Trong khi chúng ta tiếp xúc với người khác, với bạn hữu, với đồng nghiệp và với mọi người chúng ta gặp, chúng ta thường thấy những hiểu lầm, ghen ghét, phê bình, chỉ trích. Thiết nghĩ đó là những thiếu sót của tình yêu, của cảm thông. Ai trong chúng ta cũng đều hiểu rằng, nếu con người chúng ta biết trao tặng nhau những lời yêu thương và những nụ cười nho nhỏ thì chắc chắn cuộc sống chúng ta sẽ vơi đi nhiều những căn bệnh bất hòa mãn tính của lòng người.

Có một tác giả đã viết: “Trái tim không phải là một món hàng để mua bán, nhưng chính là một món quà để trao tặng. Một trái tim không biết trao tặng là một trái tim chết, một trái tim không biết rung động trước những đau khổ của anh em đồng loại là một trái tim khô cằn sỏi đá.

Chúng ta thường phân biệt sang hèn thành giai cấp, thứ bậc. Có những người tiền rừng bạc biển, có những người khố rách áo ôm. Nhưng cộng chung giầu hay nghèo, sang hay hèn, mọi người đều có một trái tim. Đúng vậy, lẽ ra những trái tim ấy phải giống nhau, vì chức năng của con tim là như nhau. Giá trị của trái tim là trao nhau, hiến tặng. Chính lúc trao tặng cho nhau như thế là chúng ta đã cho nhau một món quà vô giá. Món qùa đó không phụ thuộc vào số lượng và tiền tài mà chính là ở thái độ trìu mến, một nụ cười yêu thương của trái tim. Tất cả những thứ đem gói ghém thành món quà mà trao tặng nó cho người anh em, bạn hữu ta.

Thượng đế đã tạo dựng con người để được sống hạnh phúc và hạnh phúc ngay trong cuộc sống này. Niềm tin vào Thượng đế dù ở tôn giáo nào chúng ta cũng không chỉ hướng đến hạnh phúc đời sau, nhưng còn mời gọi hết mọi người chúng ta hưởng hạnh phúc ngay ở đời này. Mặc lấy thân phận con người, chúng ta được mời gọi hưởng niềm hạnh phúc trong yêu thương và phục vụ nhau. Bí quyết hạnh phúc mà Thượng đế đã trao tặng cho chúng ta là hãy biết nhìn nhận và đón lấy những nghịch cảnh, đồng hành, đôi khi ta phải chấp nhận nó ngay trong cuộc sống này. Bí quyết hạnh phúc cũng chính là biết đón nhận những niềm vui nhỏ bé và đem trao tặng.

Không ai cho mình là người có đủ mọi thứ, có nghĩa là chúng ta con đang thiếu và cần có cho đủ. Có sống những ngày xa gia đình mới biết quí trọng và nhớ nhung những ngày tháng sống êm đềm bên người thân. Có đau đớn quằn quại trên giường bệnh mới thấy giá trị của sức khỏe. Khi ta lầm lỗi ta với biết cảm thông với người lỗi lầm. Khi ta quỵ ngã với biết đỡ nâng những người sa đọa. Khi ta lang thang mới biết đắng cay của người không nhà. Cuộc sống chúng ta vô cùng nhiều những niềm vui lớn nhỏ và chỉ khi nào chúng ta mất nó chúng ta mới cảm thấy luyến nhớ và nuối tiếc. Chính lúc chúng ta buồn chán thất vọng nhất, chính lúc gặp những mất mát thua thiệt nhất thì lúc đó ta hãy nhớ mình vẫn luôn có một bàn tay vô hình nào đó của Thượng đế đỡ nâng.

Chắc chắn niềm vui không phải là một kho tàng có sẵn mà phải luôn kiến tạo hàng ngày. Kiến tạo niềm vui cho mình bằng cách hãy làm cho người khác được vui, càng trao ban thì niềm vui càng lớn mạnh. Ai trong chúng ta cũng có một điều gì đó để trao tặng, để nâng đỡ, nếu không phải là tiền bạc, chúng ta có thể chia sẻ với người khác một chút ít thời gian, một chút ít kiến thức và tài năng của mình. Chắc không ai nghèo đến mức mà không có lấy một chút gì cho người khác. Chúng ta có giám không, điều quan trọng là vậy. Vì ai cũng có thể chia sẻ tình thương, mến thương của mình cho người bên cạnh.

Nói những lời yêu thương và nở một nụ cười bằng sự trìu mến. Đó là bí quyết giúp chúng ta được vui. Hãy dùng nụ cười để che đi những ganh ghét, hiểu lầm. Hãy dùng nụ cười để xóa đi những bất hạnh, đau buồn. Vì khi cho đi là khi chúng ta lãnh nhận. Có như thế cuộc sống quanh ta sẽ chứa chan niềm vui.

Giuse Trần Văn Bắc

331858 top -
Tin Giáo Hội hoàn vũ năm 2011



Người Việt Nam đầu tiên làm Giám Mục tại Úc: Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long.

VATICAN. Hôm 20-5-2011, ĐTC Biển Đức 16 đã bổ nhiệm một Linh Mục Việt Nam đầu tiên làm Giám Mục tại Úc, đó là Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long, Tổng cố vấn dòng Phanxicô Viện Tu, được thăng GM hiệu tòa Tala và làm Giám Mục Phụ tá Tổng giáo phận Melbourne.

Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long năm nay 50 tuổi, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1961 tại Gia Kiệm, tỉnh Đồng Nai, rời Việt Nam ngày 11-8 năm 1980, đến tị nạn tại Úc ngày 2 tháng 12 năm 1981, và gia nhập dòng Phanxicô Viện Tu năm 1983.
Thầy khấn đơn ngày 8-12-1984 và khấn trọng ngày 14-1-1989. Thầy Long đậu cử nhân thần học (STB) tại thần học viện ở Melbourne và thụ phong linh mục ngày 30-12 cùng năm 1989.

Sau đó cha Vinh Sơn Long làm phó xứ tại Springvale (1990-1992) rồi sang Roma du học từ năm 1992, đậu Cao Học thần học (STL) tu đức và Kitô học năm 1994 tại Học viện Seraphicum của dòng Phanxicô Viện Tu. Trở về Úc, cha Vinh Sơn Long được bổ làm Giám đốc các thỉnh sinh của dòng tại Úc (1994-1998).
Ngoài ra cha làm Đại diện Bề trên miền trong 10 năm trời (Custodial Vicar, 1995-2005), đồng thời cũng đảm nhận các công tác mục vụ như cha sở ở Kellyville thuộc giáo phận Parramatta (1999-2002); Cha sở ở Springvale thuộc tổng giáo phận Melbourne 2002-2008), Bề trên giám tỉnh và thành phần ban lãnh đạo quốc tế (International Leadership Team OFM Conv.) từ năm 2005 đến 2008.

Từ ngày 22 tháng 4 năm 2008, Cha Nguyễn Văn Long là Tổng cố vấn của dòng đặc trách vùng Á châu Thái Bình Dương (FAAMC).

Theo Niên Giám 2011 của Tòa Thánh, tổng giáo phận Melbourne hiện do Đức TGM Denis James Hart, 70 tuổi, coi sóc và có 1.085.000 tín hữu Công Giáo trên tổng số 3.844.000 dân cư, với 229 giáo xứ, 3 GM phụ tá, 561 linh mục triều và dòng, 1.232 nữ tu (SD 20-5-2011)

G. Trần Đức Anh OP

332207 top -
Tin tức Công Giáo - Chia sẻ, giao lưu
1, 2, 3, 4, 5 ... 29


Image


Liên kết:
Phòng Cầu Nguyện
Gia đình Công giáo
Gương sáng Mẹ Maria
Tin tức Công giáo
Bổn mạng Thành viên
Lòng thương xót Chúa
Vui học Kinh Thánh
Nghệ thuật Công giáo

--------------------------------

Thánh Ca:
. Bao la tình Chúa
. Tình yêu Thiên Chúa
. Sao cha im lặng
. Xin ngài thương con
. Ngày xưa ấy
. Sao Người gọi tôi
. Cầu cho cha mẹ
. Khẩn cầu 2
. Đường chân lý
. LM đuốc sáng tâm linh
. Lời cảm mến
. Nếu một lần
. Con chỉ là tạo vật
. Tâm tình ca 3
. Dấu ấn tình yêu
. Giao ước tình yêu
. Chúa là con đường
. Ngài có đó
. Ánh sáng và bóng tối
. Khúc hát tạ ơn
. Xin tri ân
. Bài ca thống hối
. Chúa là cây nho
. Ngài ở nơi đâu
. Tâm tình dâng hiến
. Chúa hỡi con về
. Diễm tình ca 3
. Chúa hỡi cho con
. Thánh giá nào cho con
. Chúa không lầm
. Lời vọng tình yêu
. Tình thập tự
. Lo gì
. Dấu chân
. Từ trái tim con
. Trong gian truân
. Dâng ngài
. Con còn nhớ mãi
. Chúa vẫn thương con
. Con đường Chúa đi
. Xin định nghĩa tình yêu
. Chén đắng



















Hòa tấu thánh ca:
. 10 bài bất hủ

cập nhật
PayPal về email:
thuquy@vietditru.com


Chi phiếu gửi về:
Hai Nguyen
23 South 24th Street
San Jose, CA 95116



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM


Ý kiến về Quỹ VietDitru

ImageRomantic Piano Radio


none