.
Bệnh học - Sức khoẻ

Khuongtvo mở topic nầy cùng các bạn tìm hiểu những bệnh mà chúng ta có thể hay mắc phải. Xin mời các bạn cùng đóng góp chia sẻ.


Xin admin cho khoảng đất trống bên trái để khươngtvo cập nhật tên bệnh nhe.

Bài viết chỉ mang tính tham khảo chung chung, nếu thực sự có bệnh chúng ta nên đến bệnh viện hay bác sĩ để được chuẩn đoán chính xác.


466083 top -

Viêm phế quản cấp tính
thuocvasuckhoe


1. Định nghĩa và thuật ngữ:
Là tình trạng viêm cấp tính cuả niêm mạc phế quản ở người trước đó phế quản không có tổn thương.

- Thuật ngữ “ đợt cấp “ của viêm phế quản mạn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện nay đang được thay thế bằng “ đợt bùng phát “ của các bệnh này.

2. Căn nguyên:
2.1. Vi rút và nhóm vi khuẩn không điển hình: chiếm 50 - 90% các trường hợp. Các vi rút hay gặp: Rhino vi rút; Echo vi rút; Adeno vi rút; Myxo vi rút influenza và Herpes vi rút.

Ở trẻ em hay gặp vi rút hợp bào hô hấp và vi rút á cúm. Các vi khuẩn không điển hình như: Mycoplasma Pneumonia, Chlamydia.

2.2.Vi khuẩn : thường viêm lan từ đường hô hấp trên xuống, các vi khuẩn gồm: liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn, Heamophilus influenzae, Moraxella catarrhalis. Những vi khuẩn này thường bị bội nhiễm thứ phát sau nhiễm vi rút. Ngoài ra viêm phế quản cấp còn có thể gặp trong các bệnh: sởi , thuỷ đậu, ho gà, thương hàn, bạch hầu.

2.3.Các yếu tố hoá, lý: hơi độc ( Clo, Amoniac ) , bụi nghề nghiệp, khói thuốc lá, không khí quá khô, ẩm, lạnh, hoặc quá nóng.

2.4.Dị ứng: ở trẻ em, người lớn bị dị ứng nặng phù Quink, mày đay.

2.5. Yếu tố thuận lợi: thay đổi thời tiết, bị nhiễm lạnh, thể địa yếu, mắc bệnh đường hô hấp trên.

3. Giải phẫu bệnh lý:
Tổn thương chỉ ở niêm mạc phế quản bao gồm:

- Phù nề, xung huyết, bong biểu mô có chỗ loét, nhiều dịch nhầy hoặc mủ trong lòng phế quản.

4. Lâm sàng và chẩn đoán.
- Viêm phế quản cấp thường xuất hiện cùng lúc hoặc ngay sau viêm đường hô hấp trên: hắt hơi, sổ mũi, ho khan, rát họng.

- Hai giai đoạn của viêm phế quản cấp:

+ Giai đoạn đầu ( 3 - 4 ngày ) ( còn gọi là giai đoạn viêm khô )

. Sốt 38 - 390C, có thể tới 400, mệt mỏi, đau đầu, nhức mỏi xương khớp. cảm giác nóng rát sau xương ức. Khó thở nhẹ, có thể có tiếng rít, ho khan, có ho thành cơn về đêm. Nghe phổi có ran rít, ran ngáy.

+ Giai đoạn II: ( 6 - 8 ngày ) còn gọi là giai đoạn xuất tiết.

Các triệu chứng toàn thân và cơ năng giảm, ho khạc đờm nhầy, hoặc đờm mủ ( khi bội nhiễm ). Nghe phổi có ran ẩm.

- Các xét nghiệm cận lâm sàng ( ít có giá trị chẩn đoán ) , bạch cầu có thể bình thường, tăng khi có bội nhiễm, hoặc giảm ( do vi rút ); xét nghiệm đờm: có nhiều xác bạch cầu đa nhân trung tính. Cấy đờm thường có tạp khuẩn, loại vi khuẩn gây bệnh ³ 107 / ml.

Xquang phổi: có thể bình thường hoặc rốn phổi đậm.

5. Các thể lâm sàng:
5.1. Viêm phế quản xuất huyết : thường ho ra máu số lượng ít lẫn đờm. Cần chẩn đoán phân biệt với ung thư phổi ở người > 40 tuổi hút thuốc lá.

5.2. Viêm phế quản cấp thể tái diễn: các yếu tố thuận lợi:
+ Các yếu tố bên ngoài: hút thuốc lá, hít phải khí độc, NO2 , SO2...

+ Các yếu tố bên trong:

. Tắc nghẽn phế quản: dị vật đường thở ở trẻ em, ung thư phế quản ở người lớn, các ổ nhiễm khuẩn ở răng miệng, tai mũi họng, suy tim trái, trào ngược dạ dầy thực quản. Hoặc các bệnh như hen phế quản, xơ phổi kén , suy giảm miễn dịch.

5.3 . Viêm phế quản cấp thể co thắt: ở trẻ em và người trẻ.

5.4. Viêm khí - phế quản cấp có giả mạc : do bạch hầu.

5.5. Viêm phế quản cấp cục bộ: chẩn đoán bằng nội soi phế quản.

6.Chẩn đoán phân biệt.
6.1. Viêm họng cấp: sốt, ho, nhưng nghe phổi bình thường. Xquang phổi bình thường

6.2. Các bệnh phổi và phế quản khác: hen phế quản, ung thư phế quản, phế quản phế viêm, viêm phổi vi rút...

6.3. Giãn phế quản: ho khạc đờm kéo dài mạn tính, có thể có ngón tay dùi trống. Chụp cắt lớp vi tính có ổ giãn phế quản.

6.4. Viêm phế quản mạn: ho khạc đờm kéo dài mạn tính 3 tháng / năm, ít nhất 2 năm liên tiếp, không do các bệnh phổi khác như: lao hoặc giãn phế quản.

6.5. Viêm phổi do vi khuẩn: có hội chứng nhiễm khuẩn, hội chứng đông đặc. Xquang có tổn thương nhu mô phổi.

7.Tiến triển và biến chứng:
7.1. Tiến triển: viêm phế quản cấp tiến triển lành tính, ở người khoẻ mạnh thường tự khỏi sau 2 tuần, không để lại di chứng gì, ở người nghiện thuốc lá thường có bội nhiễm và ho khạc đờm kéo dài.

7.2. Biến chứng;

- Viêm phổi, phế quản phế viêm: thường xảy ra ở người già và trẻ em suy dinh dưỡng.

- Tăng tính phản ứng của phế quản với lạnh, khói và bụi , kéo dài vài tuần sau viêm phế quản cấp. Biểu hiện bằng ho khan kéo dài hàng tuần lễ.

8. Điều trị.
- Giữ ấm, tránh lạnh, tránh bụi. Thoáng mát về mùa hè.

- Bỏ hút thuốc lá, hoặc bỏ tiếp xúc với các chất lý, hoá gây độc. Nghỉ ngơi.

- Khi ho khan: dùng thuốc giảm ho như: Tecpin-codein, Paxeladine. Giai đoạn ho khạc đờm dùng thuốc long đờm : ho cam thảo, Mucomyst, Mucitux.

- Kháng sinh: khi có bội nhiễm hoặc người có nguy cơ biến chứng: Amoxicilin, Erythromyxin, Cephalexin.

- Khi có co thắt phế quản: Theophylin, Salbutamol.

- Thuốc an thần, kháng Histamin.

- Có thể dùng Prednisolon cho những trường hợp ho kéo dài có co thắt phế quản một đợt ngắn 5 - 10 ngày.

----
Sưu tầm

466085 top -

Viêm phế quản mãn tính
thuocvasuckhoe


1. Đại cương:

1.1. Định nghĩa:


Viêm phế quản mạn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng trong một năm và ít nhất là 2 năm liền.

Định nghĩa này loại trừ các bệnh gây ho khạc mạn tính khác: lao phổi, giãn phế quản ...

1.2. Phân loại:

- Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: chỉ ho và khạc đờm, chưa có rối loạn thông khí phổi Có thể điều trị khỏi.

- Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn lan rộng và thường xuyên của phế quản. Còn gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD : Chronic Obstructive Pulmonary Disease ).

- Viêm phế quản mạn tính nhầy mủ: ( Brochit chronic mucopurulence ) ho và khạc đờm nhầy từng đợt kịch phát hoặc liên tục.

1.3. Nguyên nhân và bệnh sinh:

- Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.

- Bụi ô nhiễm: SO2, NO2. Bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.

- Nhiễm khuẩn: vi khuẩn, virut, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.

- Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A dễ bị viêm phế quản mạn tính, Thiếu hụt IgA , hội chứng rối loạn vận động rung mao tiên phát, giảm a1Antitripsin.

- Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.

- Cơ chế bệnh sinh chủ yếu do:

+ Biến đổi chất gian bào.

+ Mất cân bằng giữa Protêaza và kháng Proteaza.

+ Mất cân bằng giữa hệ thống chống oxy hoá và chất oxy hoá.

1.4. Giải phẫu bệnh lý:

Tổn thương từ khí quản-phế quản lớn đến các phế quản tận, bao gồm: phá huỷ biểu mô phế quản, giảm tế bào lông và thay đổi cấu trúc rung mao, quá sản các tế bào hình đài, tăng sản và phì đại tuyến nhầy, chỉ số Reid ³0,7 là chỉ số của bề dầy tuyến / thành phế quản , ( bình thường chỉ số này £ 0,4 )

Đường thở nhỏ tổn thương viêm mạn tính: phì đại cơ trơn, loạn sản tế bào chế nhầy, bong biểu mô gây hẹp lòng đường thở nhỏ và tăng sức cản đường thở.

Những trường hợp có biến chứng khí phế thũng, thì có tổn thương đường thở ở trung tâm tiểu thuỳ và giãn ra không hồi phục, gây khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.

2. Triệu chứng lâm sàng:

- Thường ở người trên 40 tuổi, nghiện thuốc lá, thuốc lào. Thường xuyên ho khạc về buổi sáng. Đờm nhầy trong, dính hoặc màu xanh, vàng đục, mỗi ngày không quá 200ml. Mỗi đợt kéo dài 3 tuần, tăng về mùa đông và đầu mùa thu.

- Đợt bùng phát của viêm phế quản mạn tính, thường xảy ra ở người già, yếu, do bội nhiễm. Có thể sốt, ho, khạc đờm và khó thở, có thể tử vong do suy hô hấp và tâm phế mạn.

- Ở người mắc bệnh lâu năm ( bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ) , lồng ngực biến dạng hình thùng, hình phễu, khó thở rút lõm cơ hô hấp, rút lõm kẽ gian sườn, phần đáy bên của lồng ngực co hẹp lại khi hít vào (dấu hiệu Hoover ), rút lõm hõm ức, khí quản tụt xuống khi hít vào ( dấu hiệu Campbell ).

Gõ phổi vang trầm, nghe rì rào phế nang giảm, tiếng thở thanh-khí-phế quản giảm hoặc thô ráp, có thể có ran rít, ran ngáy và ran ẩm.Có thể có hội chứng ngừng thở khi ngủ, mạch đảo nghịch ( chênh lệch huyết áp tâm thu khi hít vào và thở ra ³ 10mmHg ) cao áp động mạch phổi và tâm phế mạn.

3. Cận lâm sàng:

3.1. X quang:

Tuy ít giá trị chẩn đoán nhưng, Xquang phổi giúp chẩn đoán phân biệt các bệnh gây ho khạc mạn tính và để chẩn đoán biến chứng.

- Viêm phế quản mạn tính giai đoạn đầu, Xquang phổi chưa có biểu hiện.

- Khi viêm phế quản mạn tính thực thụ, sẽ thấy các hội chứng Xquang:

+ Hội chứng phế quản: dầy thành phế quản ( 3-7mm), dấu hiệu hình đường ray, hình nhẫn. Kèm theo viêm quanh phế quản, mạng lưới mạch máu tăng đậm, tạo hình ảnh phổi “ bẩn”.

+ Hội chứng khí phế thũng: giãn phổi, tăng sáng, 0giãn mạng lưới mạch máu ngoại vi, có các bóng khí thũng.

+ Hội chứng mạch máu: cao áp động mạch phổi ( mạch máu trung tâm to, ngoại vi thưa thớt ).

- Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao ( HRCT : High Resolution Computed Tomography ) thấy rõ được các dấu hiệu của hội chứng phế quản nói trên và khí phế thũng.

- Chụp động mạch phế quản có thể thấy giãn động mạch phế quản và cầu nối giữa động mạch phế quản và động mạch phổi.

- Chụp xạ nhấp nháy ( Scintigraphie ): dùng senon 133 có thể thấy phân bố khí không đều ở các phế nang. Dùng 131I để thấy sự phân bố máu không đều trong phổi.

3.2. Thăm dò chức năng hô hấp:

- Thông khí phổi: viêm phế quản mạn tính khi có rối loạn thông khí tắc nghẽn thì gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính .

+ FEV1 ( VEMS ) giảm < 80% lý thuyết, càng giai đoạn muộn thì càng giảm.

+ Raw ( sức cản đường thở ) tăng sớm .

+ VC ( dung tích sống ) giảm, khi có tắc nghẽn và khí phế thũng.

+ Chỉ số Tiffeneau hoặcGaensler giảm.

- Khí động mạch: có giá trị chẩn đoán suy hô hấp trong các đợt bùng phát: PaO­2 giảm ( < 60mmHg ) PaCO2 tăng ( > 50mmHg ).

4. Chẩn đoán:

4.1. Chẩn đoán xác định:

Dựa vào tiêu chuẩn trong định nghĩa và triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng.

4.2. Chẩn đoán phân biệt:

- Lao phổi : ho kéo dài , Xquang có hình ảnh ” phổi bẩn”

- Giãn phế quản: ho và khạc đờm nhiều. Nhưng < 200ml/24 giờ.

- Hen phế quản: cần chẩn đoán phân biệt với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn, dùng test xịt Salbutamol 200 - 300 mg và đo FEV1, nếu FEV1 tăng không quá 15% là viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn .

- Ung thư phế quản: ho kéo dài. Xquang có hình ảnh u hoặc hạch chèn ép.

- Khí phế thũng: khi viêm phế quản mạn tính chưa biến chứng khí phế thũng.


5. Tiến triển và biến chứng:

- Tiến triển: từ từ nặng dần 5-20 năm, nhiều đợt bùng phát dẫn đến biến chứng khí phế thũng và tâm phế mạn, suy hô hấp.

- Biến chứng:

+ Khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.

+ Tâm phế mạn, cao áp động mạch phổi.

+ Bội nhiễm: viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi...

+ Suy hô hấp: cấp và mạn.

6. Điều trị:

6.1. Đối với viêm phế quản mạn, không có tắc nghẽn:

Cần dự phòng bằng cách:

Bỏ hút thuốc, tránh lạnh, tránh bụi, phòng chống nhiễm khuẩn đường hô hấp trên bằng súc họng, nhỏ mũi. Tiêm vacxin đa giá: Rhibomunyl, phòng chống cúm. Điều trị tốt bệnh tai mũi họng. Dùng vitamin A, C, E ( chống oxy hoá ).

- Khi có bội nhiễm phế quản:

+Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Hoặc dùng kháng sinh loại Gram (+) Tetraxyclin 1g / ngày hoặc Ampixilin 1g / ngày, hoặc Erythromyxin. Có thể phối hợp cả 2 nhóm trên.

- Có thể dùng kháng sinh mạnh: Rulid 150 mg ´ 2v / 24giờ hoặc Rovamyxin 3 tr UI / 24 giờ .

+ Long đờm: Natribenzoat 3% ´ 20ml / 24giờ, hoặc Acemuc, Bisorven, Mucosolvan, RhDnase.

+ Vỗ rung và dẫn lưu theo tư thế. Ngày 2-3 lần. Mỗi lần 15 phút-30 phút

+ Chống co thắt phế quản: xịt Salbutamol hoặc uống Theophylin, nếu nhiều đờm xịt Atrovent.

6.2. Đối với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn:

Ngoài các biện pháp trên cần thêm:

+ Chống viêm bằng nhóm Corticoid: xịt Budesonide ( Pulmicort ) hoặc uống Prednisolon 30 mg / ngày, giảm liều dần hoặc tiêm truyền tĩnh mạch.

+ Thở Oxy, thở máy, đặt nội khí quản hút rửa, chống suy tim khi có tâm phế mạn.

- Ngoài đợt bùng phát : cần điều trị dự phòng và tập thở bụng


------
Sưu tầm

466087 top -

Viêm phổi
thuocvasuckhoe


Viêm phổi là tình trạng viêm ở phổi thương do vi khuẩn, virus, nấm hoặc các tác nhân khác gây ra. Viêm phổi là vấn đề đặc biệt đáng lo ngại đối với người già, người có bệnh mạn tính hoặc bị suy giảm miễn dịch, nhưng cũng có thể xảy ra ở người trẻ khỏe. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên toàn thế giới.

Dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng của viêm phổi thường rất giống với cảm lạnh và cúm. Đau ngực là triệu chứng hay gặp nhất.

Triệu chứng có thể khác nhau tuỳ theo nguyên nhân:

• Viêm phổi do vi khuẩn: triệu chứng thường xảy ra đột ngột, bao gồm rét run, sốt cao, ra mồ hôi, khó thở, đau ngực, ho đờm đặc màu xanh hoặc màu vàng. Viêm phổi do vi khuẩn thường khu trú ở một vùng (thuỳ) phổi và được gọi là viêm phổi thuỳ.

• Virus. Khoảng một nửa số trường hợp viêm phổi là do virus. Bệnh thường bắt đầu với các triệu chứng giống cúm, ho khan, đau đầu, sốt, đau cơ và mệt mỏi. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể có khó thở và ho khạc đờm trong hoặc màu trắng. Người bị viêm phổi virus cũng có nguy cơ bị bội nhiễm vi khuẩn.

• ycoplasma. Viêm phổi do mycoplasma có các triệu chứng giống với viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus, tuy nhiên các triệu chứng thường nhẹ và bệnh nhân có thể thậm chí không biết mình bị viêm phổi.

• Nấm. Một số loại nấm có thể gây viêm phổi, mặc dù ít gặp. Một số người có thể có rất ít triệu chứng, nhưng một số người có thể bị viêm phổi cấp và dai dẳng.

• Pneumocystis carinii. Viêm phổi do P. carinii là một bệnh nhiễm trùng cơ hội hay gặp ở người nhiễm HIV/AIDS. Người có hệ miễn dịch suy yếu do ghép tạng, hóa trị liệu hoặc điều trị corticosteroids hay các thuốc ức chế miễn dịch káhc cũng có nguy cơ. Triệu chứng của viêm phổi do Pneumocystis carinii bao gồm ho dai dẳng, sốt và khó thở.

Nguyên nhân

Viêm phổi xảy ra khi các tác nhân gây bệnh vượt qua hàng rào bảo vệ của cơ thể và xâm nhập vào đường hô hấp. Tại đó, bạch cầu sẽ bắt đầu tấn công tác nhân gây bệnh. Sự tích tụ của mầm bệnh, bạchc ầu và ccs protein miễn dịch trong phế nang khiến phế nang bị viêm và tích dịch dẫn đến khó thở và các tiệu chứng điển hình của viêm phổi.

Xét nghiệm và chẩn đoán

• Tiếng ran ở phổi khi nghe bằng ống nghe.

• Chụp X quang phổi để xác định viêm phổi cũng như vị trí và phạm vi của tổn thương ở phổi.

• Xét nghiệm máu và xét nghiệm đờm.

Điều trị

Việc điều trị thường tuỳ theo mức độ nặng của triệu chứng và loại viêm phổi.

Viêm phổi do vi khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh. Để phòng ngừa hiện tượng kháng thuốc, cần dùng đủ liều kháng sinh kể cả khi bệnh đã thuyên giảm.

Viêm phổi do virus: Kháng sinh không có tác dụng. Bệnh nói chung được điều trị giống như với cúm: nghỉ ngơi và uống nhiều nước.

Viêm phổi do mycoplasma được điều trị bằng kháng sinh. Một số trường hợp bệnh có thể rất nhẹ và không cần điều trị.
Viêm phổi do nấm sẽ được điều trị bằng thuốc chống nấm.

Phòng bệnh

• Tiêm vaccin đầy đủ

• Rửa tay thường xuyên

• Không hút thuốc lá

• Ăn uống hợp lý và thường xuyên luyện tập để tăng cường thể lực.


----
Nguồn: Cimsi.org.vn

466090 top -

Viêm thanh quản
thuocvasuckhoe


Image

1. Giải phẫu và sinh lý thanh quản.

1.1. Giải phẫu thanh quản.

Thanh quản là cơ quan phát âm và thở, nằm ở trư­ớc thanh hầu, từ đốt sống C3 đến C6, nối hầu với khí quản vì vậy nó thông ở trên với hầu, ở dưới với khí quản.

Thanh quản di động ngay d­ưới da ở vùng cổ trư­ớc khi nuốt hoặc khi cúi xuống hoặc ngẩng lên. Nó phát triển cùng với sự phát triển của bộ máy sinh dục, nên khi trưởng thành thì giọng nói cũng thay đổi (vỡ giọng), ở nam giới phát triển mạnh hơn vì vậy giọng nói của nam, nữ khác nhau, nam trầm đục, nữ trong cao.

Kích thư­ớc thanh quản:

Nam Nữ

Chiều dài 44 mm 36 mm

Đường kính ngang 43 mm 41 mm

Đư­ờng kính trư­ớc sau 36 mm 26 mm

Cấu tạo giải phẫu: thanh quản đ­ược cấu tạo bởi các tổ chức sụn, sợi và cơ.

Các cơ thanh quản:

- Nhóm cơ làm hẹp thanh môn: cơ nhẫn phễu bên, cơ giáp phễu, cơ phễu chéo và ngang, cơ phễu nắp thanh hầu.

- Nhóm cơ làm rộng thanh môn: cơ nhẫn phễu sau, cơ giáp nắp thanh hầu.

- Nhóm cơ làm căng và chùng dây thanh âm: cơ nhẫn giáp, cơ thanh âm.

Ổ thanh quản: đ­ược niêm mạc phủ, chia làm 3 tầng: tiền đình thanh quản, thanh môn, tầng dưới thanh môn.
Mạch máu và thần kinh.

Động mạch: các động mạch thanh quản trên và d­ưới là ngành của động mạch giáp trạng trên và giáp trạng dư­ới. Nhìn chung, cuống mạch thần kinh của tuyến giáp trạng cũng là cuống mạch thần kinh của thanh quản.

Tĩnh mạch: đi theo động mạch đổ về tĩnh mạch giáp l­ưỡi và tĩnh mạch d­ưới đòn.

Thần kinh: do hai dây thần kinh thanh quản trên và d­ưới, tách từ dây thần kinh X.

- Dây thanh quản trên: cảm giác cho thanh quản ở phía trên nếp thanh âm và vận động cơ nhẫn giáp.

- Dây thanh quản d­ưới: hay dây quặt ngư­ợc vận động cho hầu hết các cơ của thanh quản và cảm giác từ nếp thanh âm trở xuống.

- Thần kinh giao cảm của thanh quản tách ở hạch giao cảm cổ giữa và cổ trên.

1.2. Sinh lý thanh quản.

1.2.1. Phát âm.

- Lời nói phát ra do luồng không khí thở ra từ phổi tác động lên các nếp thanh âm.

- Sự căng và vị trí của nếp thanh âm ảnh h­ưởng đến tần số âm thanh.

- Âm thanh thay đổi là do sự cộng hưởng của các xoang mũi, hốc mũi, miệng, hầu và sự trợ giúp của môi, lư­ỡi, cơ màn hầu.

1.2.2. Ho là phản xạ hô hấp trong đó thanh môn đang đóng bất thình lình mở ra, dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi.

1.2.3. Nấc là một phản xạ hít vào, trong đó 1 đoạn ngắt âm kiểu hít vào đ­ược phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành, thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.

2. Viêm thanh quản cấp tính.

Bệnh tích chủ yếu của viêm thanh quản là viêm niêm mạc. Quá trình viêm có thể khu trú ở niêm mạc hoặc lan xuống lớp dưới. Diễn biến từ xung huyết, phù nề, loét niêm mạc đến viêm cơ, hoại tử sụn. Viêm thanh quản cấp tính trên lâm sàng thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau có thể xếp thành:

- Viêm thanh quản cấp tính ở người lớn.

- Viêm thanh quản cấp tính ở trẻ em.

- Viêm thanh quản hậu phát.

- Phù nề thanh quản.

2.1. Viêm thanh quản cấp tính ở người lớn: Trong viêm thanh quản cấp tính ở người lớn hay gặp:

- Viêm thanh quản xuất tiết.

- Viêm thanh quản do cúm.

- Viêm thanh thiệt.

2.1.1. Viêm thanh quản cấp tính xuất tiết.

Nguyên nhân:

- Hay gặp mùa lạnh viêm thường nặng, bệnh tích có thể từ mũi xuống thanh quản, nam giới bị nhiều hơn nữ giới vì có điều kiện phát sinh như: hút thuốc, uống rượu, làm việc nơi nhiều bụi, gió lạnh.

- Ngoài ra có nguyên nhân là virút.

Triệu chứng:

Triệu chứng toàn thân: ớn lạnh, đau mình, chân tay mỏi.

Triệu chứng cơ năng: bắt đầu đột ngột bằng cảm giác khô họng, nuốt đau, tiếng nói khàn hoặc mất kèm theo ho, khạc đờm.

Triệu chứng thực thể.

- Niêm mạc xung huyết, dây thanh nề đỏ, lớp dưới niêm mạc phù nề, xuất tiết nhầy đặc đọng ở mép sau và dây thanh.

- Bán liệt các cơ căng (cơ giáp phễu) và cơ khép (cơ bên phễu).

Diễn biến:

Bệnh tiến triển trong 3 - 4 ngày triệu chứng sẽ giảm đi, xung huyết nhạt dần, tiếng nói thường phục hồi chậm.

Điều trị:

- Hạn chế nói.

- Khí dung: KS + Corticoid.

- Giảm ho.

- Giảm đau.

- Phun Adrenalin 1/1000.

- Đông y ăn quả chanh non đã nướng.

2.1.2. Viêm thanh quản do cúm.

Nguyên nhân:

Viêm thanh quản do virut cúm hoặc virut phối hợp với vi khuẩn thông thường. Bênh tích thường lan xuống khí quản.
Triệu chứng: Hình thái lâm sàng của viêm thanh quản do cúm rất phong phú nó thay đổi tuỳ theo loại vi khuẩn phối hợp.

- Thể xuất tiết: triệu chứng giống viêm thanh quản xuất tiết thông thường nhưng chúng ta nghĩ đến nguyên nhân cúm là vì có dịch cúm, đôi khi chúng ta thấy những điểm chảy máu dưới niêm mạc (đây là dấu hiệu của viêm thanh quản do cúm).

- Thể phù nề: thể này thường kế tiếp thể xuất tiết, thể phù nề ở thanh thiệt và mặt sau sụn phễu, niêm mạc bị căng bóng, đỏ, bệnh nhân nuốt đau và đôi khi khó thở.

- Thể loét: triệu chứng thực thể có những vết loét nông bờ đỏ ở sụn phễu, nẹp phễu thanh thiệt.

- Thể viêm tấy.

Sốt cao, mạch nhanh.

Nuốt khó, đau họng, tiếng nói khàn, khó thở kiểu thanh quản.

Vùng trước thanh quản bị sưng đau.

Tiên lượng: Tuỳ theo bệnh tích và thể bệnh.

- Thể xuất tiết tiên lượng tốt.

- Thể phù nề, loét, hoại tử tiên lượng dè dặt.

Điều trị:

- Khí dung KS + Corticoid.

- Nếu có áp xe phải chích tháo mủ.

2.1.3. Viêm thanh thiệt phù nề: Thanh thiệt là cánh cửa của thanh quản mặt trước rất dễ bị viêm hay phù nề.

Triệu chứng:

Bệnh nhân có cảm giác bị vướng đờm, khi nuốt đau nhói lên tai. Soi thanh quản gián tiếp thấy thanh thiệt sưng mọng như môi cá mè.

Điều trị:

- Chống viêm, giảm phù nề.

- Phun thuốc Cocain + Adrenalin.

3. Viêm thanh quản mạn tính.

Viêm thanh quản mạn tính không có triệu chứng chức năng gì khác ngoại trừ khàn tiếng kéo dài không có xu hướng tự khỏi và phụ thuộc vào quá trình viêm thông thường không đặc hiệu, có nghĩa là không kể đến bệnh nhân lao thanh quản, giang mai, nấm thanh quản.

3.1. Nguyên nhân.

- Do phát âm: ca sĩ, giáo viên dễ bị viêm do thanh quản làm việc quá sức, phát âm không hợp với âm vực của mình.

- Do đường hô hấp: hít phải hơi hoá chất, viêm mũi, viêm xoang mạn tính, uống rượu, hút thuốc.

- Do thể địa: người bị bệnh gút, đái đường... có nhiều loại viêm thanh quản mạn tính nhưng có chung một triệu chứng là khàn tiếng.

3.2.Viêm thanh quản mạn tính xuất tiết:

Thông thường là hậu quả của viêm thanh quản cấp tính tái diễn nhiều lần và sau mỗi một đợt viêm cấp tính lại khàn tiếng tăng.

3.2.1.Triệu chứng cơ năng:

tiếng nói không vang, bệnh nhân phải cố gắng mới nói to được và chóng mệt về sau tiếng nói rè và khàn, bệnh nhân luôn phải đằng hắng buổi sáng do tiết nhầy ở thanh quản nhiều, ngoài ra bệnh nhân hay có cảm giác ngứa, cay, khô rát trong thanh quản.

3.2.2.Triệu chứng thực thể.

- Tiết nhầy hay đọng ở điểm cố định ở 1/3 trước và 2/3 sau lúc bệnh nhân ho thì dịch nhầy đó sẽ rụng đi và tiếng nói được phục hồi trong trở lại.

- Dây thanh cũng bị xung huyết ở mức độ nặng, hai dây thanh bị quá sản tròn như sợi dây thừng, niêm mạc mất bóng.

- Các cơ căng hoặc cơ khép bị bán liệt.

3.2.3. Tiến triển:

Bệnh kéo dài rất lâu, lúc tăng, lúc giảm nhưng không nguy hiểm.

3.2.4. Điều trị.

- Giải quyết ổ viêm nhiễm ở mũi, xoang, tránh những hơi hoá chất.

- Tại chỗ: phun dung dich kiềm, bôi Nitrat bạc vào dây thanh.

3.3. Viêm thanh quản quá phát.

Viêm thanh quản quá phát mà người ta gọi là dày da voi có sự quá phát của biểu mô và lớp đệm dưới niêm mạc, tế bào trụ có lông chuyển biến thành tế bào lát.

3.3.1.Triệu chứng cơ năng: giống như viêm thanh quản mạn tính xuất tiết thông thường: khàn tiếng, đằng hắng, rát họng khi nói nhiều.

3.3.2.Triệu chứng thực thể khi soi thanh quản thấy bệnh tích.

- Viêm thanh đai dày toả lan: thể này hay gặp loại thanh đai bị quá phát toàn bộ biến dạng tròn giống như sợi dây thừng màu đỏ.

- Viêm thanh quản dày từng khoảng: trên dây thanh có những nốt sần đỏ, bờ dây thanh biến thành đường ngoằn ngoèo.

3.4. Viêm thanh quản nghề nghiệp.

Những người sống bằng nghề phải nói nhiều: ca sĩ, dạy học... thường bị viêm thanh quản nghề nghiệp do làm việc quá độ hoặc nói gào suốt ngày, trong giai đoạn đầu bệnh nhân nói không to được, bệnh nhân ráng sức thì sẽ lạc gịọng chứ không to hơn được. Soi thấy thanh quản xung huyết, về sau bệnh diễn biến theo một trong hai thể sau:

- Viêm thanh quản mạn tính quá phát.

- Viêm thanh quản hạt: u xơ nhỏ mọc ở bờ tự do của dây thanh (hạt xơ dây thanh).

3.5. Bạch sản thanh quản hay papillome.

Triệu chứng:


- Bệnh tích chủ yếu là sự quá sản của các gai nhú được lớp niêm mạc sừng hoá che phủ.

- Soi thanh quản thấy dây thanh một bên hoặc cả 2 bên có phủ lớp trắng như vôi hoặc lớp gai lổn nhổn ngắn và trắng. Bệnh này có khả năng ung thư hoá cao.

Điều trị: nên coi là một bệnh tiền ung thư và xử trí bằng phẫu thuật mở thanh quản và cắt dây thanh.

3.6. Viêm thanh quản teo.

Viêm thanh quản teo thường xuất hiện sau một số bệnh ở mũi và xoang nhưng nguyên nhân chủ yếu là do trĩ mũi (ozen).
Triệu chứng:

- Bệnh nhân có cảm giác khô rát họng, tiếng nói khàn tăng vào buổi sáng thỉnh thoảng có ho cơn khạc ra vẩy vàng, xanh, hơi thở có mùi hôi, niêm mạc thanh quản đỏ, khô có nếp nhăn, tiết nhầy và vảy khô đọng ở mép liên phễu, dây thanh thường di động kém.

- Bệnh diễn biến từng đợt ở phụ nữ sẽ giảm nhẹ trong thời kỳ thai nghén.

Điều trị: phun dung dịch Beratnatri 10%. Chữa ozen mũi nếu có.

-------
sưu tầm

466197 top -

Bệnh ho gà
thuocvasuckhoe


I. ĐẠI CƯƠNG:

Ho gà là bệnh truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn ho gà gây ra, bệnh lây theo đường hô hấp. Biểu hiện lâm sàng bằng những cơn ho dữ dội, đặc biệt.

1. MẦM BỆNH

- Trực khuẩn ho gà thuộc họ Pavrobacteriaceae

- Là trực khuẩn gram âm, hai đầu nhọn, kích thước 0,3-0,5´1-1,5mm, ưa khí, không di động, không sinh nha bào. Vi khuẩn kém chịu đựng với nhiệt độ: dưới ánh sáng mặt trời chết sau 1 giờ, ở nhiệt độ 55°C chết sau 30 phút.

- Vi khuẩn tiết ra nội độc tố gồm hai loại: chịu nhiệt và không chịu nhiệt.

2. NGUỒN BỆNH

Là những bệnh nhân bị bệnh ho gà. Bệnh lây lan mạnh nhất trong tuần đầu của bệnh. Cho đến nay vẫn chưa xác định có người lành mang khuẩn.

3. ĐƯỜNG LÂY

Bệnh ho gà lây theo đường hô hấp do vi khuẩn có trong những hạt nước bọt bắn ra từ mũi, miệng bệnh nhân khi ho, hắt hơi trực tiếp sang người lành. Phạm vi lây trong khoảng dưới 3 mét.

4. SỨC CẢM THỤ

Mọi lứa tuổi, giới, dân tộc, vùng địa lý đều có thể bị ho gà nhưng chủ yếu là trẻ em 1-6 tuổi dễ bị hơn, trẻ càng ít tuổi bệnh càng nặng.

5. TÍNH MIỄN DỊCH

Sau khi bị bệnh ho gà bệnh nhân có miễn dịch bền vững suốt đời do đó rất hiếm khi mắc lại.

6. TÍNH CHẤT DỊCH

Bệnh thường xảy ra quanh năm, mang tính lưu hành địa phương.

II. CƠ CHẾ BỆNH SINH VÀ GIẢI PHẪU BỆNH LÝ

1. CƠ CHẾ BỆNH SINH


- Những thương tổn ở phổi trong bệnh ho gà chủ yếu do độc tố của vi khuẩn gây viêm cấp tính đường hô hấp và kích thích niêm mạc tăng tiết nhầy. Thương tổn xảy ra chủ yếu ở phế quản và các tiểu phế quản.

- Độc tố của vi khuẩn, kích thích trực tiếp vào các thụ cảm thần kinh của niêm mạc đường hô hấp gây ra các cơn ho điển hình, mặt khác tác động lên hệ thần kinh trung ương. Tại đây, độc tố ảnh hưởng trực tiếp đến trung khu hô hấp ở hành tuỷ, gây ra những biểu hiện rối loạn hô hấp, nếu nặng có thể ngừng thở. Độc tố còn có thể gây ra những ổ hưng phấn ở trung khu hô hấp, kết quả là tạo ra những cơn ho phản xạ kéo dài. Sự lan truyền của độc tố ở hệ thần kinh trung ương có thể dẫn tới biểu hiện viêm não - một biến chứng nặng của bệnh ho gà.

2. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ

Những tổn thương chủ yếu trong bệnh ho gà là:

- Co thắt các phế quản và tiểu phế quản. Niêm mạc khí - phế quản bị tổn thương tại chỗ và có hiện tượng tăng tiết các dịch nhầy.

- Trong lòng các phế nang xuất hiện nhiều dịch và các mô bào. Thành xung huyết

- Có thể thấy hiện tượng phù nề ở tổ chức não và tổn thương các tế bào thần kinh

III. LÂM SÀNG

1. THỂ THÔNG THƯỜNG ĐIỂN HÌNH


* Thời kỳ nung bệnh: 2-30 ngày (trung bình 5-12 ngày).

* Thời kỳ khởi phát (hay còn gọi giai đoạn xuất tiết, giai đoạn viêm long)
Thường từ 3-14 ngày với các biểu hiện.

- Sốt nhẹ, từ từ tăng dần.

- Các triệu chứng viêm long đường hô hấp: ho khan, hắt hơi, chảy nước mũi, đau rát họng, dần dần chuyển thành ho cơn.

* Thời kỳ toàn phát (hay giai đoạn co thắt, giai đoạn ho cơn)

Kéo dài 1-2 tuần. Xuất hiện những cơn ho gà điển hình, xảy ra bất chợt, vô cớ cả ngày và đêm, ho nhiều về đêm, ho cả khi trẻ đang chơi, đang ăn hoặc khi quấy khóc. Cơn ho diễn biến qua 3 giai đoạn: ho, thở rít vào và khạc đờm.

- Ho: ho rũ rượi, thành cơn, mỗi cơn từ 15-20 tiếng ho liên tiếp, càng về sau càng yếu và giảm dần. Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt nước mũi.

- Thở rít vào: Xuất hiện cuối cơn ho hoặc xen kẽ sau mỗi tiếng ho, trẻ thở rít vào nghe như tiếng gà rít.

- Khạc đờm: Khi trẻ khạc đờm trắng, màu trong, dính như lòng trắng trứng là lúc kết thúc một cơn ho. Trong đờm có trực khuẩn ho gà

Sau mỗi cơn ho trẻ bơ phờ mệt mỏi, có thể nôn, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh. Kèm theo có thể thấy một số triệu chứng sau: Sốt nhẹ hoặc hoặc không sốt, mặt và mi mắt nặng, loét hãm lưỡi, nghe phổi trong cơn ho có thể thấy một số ran phế quản.

* Xét nghiệm:

• Số lượng bạch cầu máu ngoại vi tăng cao tới 20.000-30.000/mm3, trong đó chủ yếu là bạch cầu lympho (chiếm 60-80%).

• Cấy nhầy họng có thể cho tỷ lệ dương tính tới 92,1%.

• Dùng phương pháp miễn dịch huỳnh quang cho kết quả nhanh nhưng tỷ lệ dương tính giả tới 40%.

• X quang phổi: có các bóng mờ đi từ rốn phổi tới cơ hoành. Ngoài ra có thể thấy phản ứng mờ góc sườn hoành, hình mờ đáy phổi hoặc hình ảnh xẹp phổi.

* Thời kỳ lui bệnh và hồi phục

Kéo dài khoảng 2-4 tuần. Số cơn ho giảm dần, thời gian mỗi cơn ngắn lại, cường độ ho giảm, khạc đờm ít, sau đó hết hẳn. Tình trạng toàn thân tốt dần lên, trẻ ăn được và vui chơi bình thường.

Ở một số trẻ xuất hiện những cơn ho phản xạ kéo dài, thậm chí tới 1-2 tháng.

2. MỘT SỐ THỂ LÂM SÀNG KHÁC

* Theo lứa tuổi:

- Ho gà ở trẻ sơ sinh: thường diễn biến nặng, tỷ lệ tử vong cao.

- Ho gà ở người lớn: ít gặp. Biểu hiện lâm sàng thường nhẹ, ho dai dẳng nhưng thở vào không rít lắm, ít nôn.

* Theo mức độ:

- Thể thô sơ: không ho, chỉ hắt hơi nhiều.

- Thể nhẹ: cơn ho nhẹ, ngắn và không điển hình, không khạc đờm nhiều. Thường gặp ở trẻ em đã tiêm vacxin phòng ho gà nhưng kháng thể thấp và tồn lưu ngắn. Thể này thường khó chẩn đoán.

3. BIẾN CHỨNG

* Biến chứng hô hấp:

- Viêm phế quản: trẻ sốt cao, nghe phổi có nhiều ran rít, ran ngáy. Đặc biệt ở một số trường hợp có thể gặp khạc ra đờm, mủ.

Xét nghiệm: Bạch cầu đa nhân trung tính ở máu ngoại vi tăng cao.

- Dãn phế quản: Thường là hậu quả của bội nhiễm phế quản - phổi. Thường khó phát hiện trên phim X quang thông thường. Trên phim chụp phế quản cản quang 50% trường hợp có dãn phế quản hình trụ hoặc hình ống, hình ảnh này sẽ hết khi khỏi bệnh ho gà.

- Viêm phổi - phế quản là biến chứng hô hấp hay gặp, nhất là ở trẻ sơ sinh và trẻ suy dinh dưỡng. Bệnh nhân sốt cao, khó thở, nghe phổi có nhiều ran ẩm, ran nổ. X quang phổi có nhiều nốt mờ không đều rải rác 2 bên. Tử vong cao do suy hô hấp nếu không được điều trị kịp thời.

* Biến chứng thần kinh:

Viêm não là một biến chứng nặng của bệnh ho gà, tỷ lệ tử vong cao. Trẻ sốt rất cao, li bì, hôn mê, co giật. Nếu được cứu thoát có thể để lại di chứng như liệt nửa người, liệt một chi, liệt dây thần kinh so não hoặc rối loạn tâm thần.

* Biến chứng cơ học:

Lồng ruột, thoát vị, sa trực tràng. Trường hợp nặng có thể gặp vỡ phế nang, tràn khí trung thất hoặc tràn khí màng phổi.

* Bội nhiễm

IV . CHẨN ĐOÁN:

1. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH :


* Lâm sàng: Tuổi dễ mắc (1-6 tuổi) cơn ho điển hình.

* Xét nghiệm:

- Bạch cầu máu ngoại vi tăng cao, chủ yếu là bạch cầu lympho.

- Cấy nhầy họng trong tuần đầu tìm vi khuẩn gây bệnh.

* Dịch tễ: Nhiều trẻ cùng bị trong một tập thể.

2. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT:

* Trong giai đoạn viêm long cần phân biệt với:

- Viêm khí phế quản co thắt: thường khó thở về đêm, ho ít khạc đờm, hay có tiền sử dị ứng, bệnh hay tái phát.

- Viêm khí phế quản, viêm phổi do virut: ho không thành cơn, bạch cầu không tăng ở máu ngoại vi, bệnh diễn biến nhanh sau 7-10 ngày.

* Trong giai đoạn ho cơn cần phân biệt với:

- Các nhiễm khuẩn đường hô hấp do vi khuẩn như viêm phế quản, viêm phổi, viêm phổi - phế quản.

- Lao hạch khí - phế quản trẻ em: phát hiện qua chụp phổi, xét nghiệm đờm và làm phản ứng Mantoux.

V. ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG:

1. KHÁNG SINH ĐẶC HIỆU:


Cho đến nay, các kháng sinh dưới đây vẫn tác dụng tốt đối với trực khuẩn ho gà in vitro. Đó là:

- Streptomyxin liều dùng 20-25 mg/kg/ngày
- Tetraxyclin 20-40 mg/kg/ngày
- Chloramphenicol 25-50 mg/kg/ngày

Thời gian dùng thuốc: 7-10 ngày.

Tuy nhiên, do những tác dụng độc của thuốc đối với trẻ em, các kháng sinh trên nay ít được sử dụng.

Nên dùng một trong các loại sau:

- Ampixilin 75-100 mg/kg/ngày
- Erythromyxin 30-50 mg/kg/ngày
Trong 7-10 ngày

Cần chú ý đến một số biệt dược hay được sử dụng hiện nay: Eryenfant, Erybactrim (liều dùng như Erythromyxin) và Rulid (Roxithromyxin) 5-8 mg/kg/ngày ´ 7-10 ngày.

IV 2. ĐIỀU TRỊ TRIỆU CHỨNG :

* Làm giảm và cắt cơn ho bằng cách:

- Dùng thuốc kháng sinh Histamin tổng hợp: Dung dịch Dimedron 0,1% uống 5-10 ml/lần ´ 2 - 3 lần/ngày hoặc siro Phenergan 10-20ml/ngày.

- Seduxen 1-2 mg/kg/ngày hoặc Gacdenal 2-3 mg/kg/ngày.

- Một số thuốc ho được sử dụng cho người lớn như Codein, rượu Benladon không dùng cho trẻ em. Có thể dùng siro ho gà đông y hoặc một trong các biệt dược sau: Antitus, Antussin, Solmux Broncho hoặc Theralen 10-20 ml/ngày.

* Khi có nôn nhiều: Dùng Primperan 0,5-1 ml/ngày.

* Khi có khó thở: Móc, hút đờm dãi, cho thở oxy.

* Trợ tim mạch: Coramin 0,25% ´ 20 - 30 giọt/ngày.

* Khi có biến chứng:

- Nếu là biến chứng đường hô hấp do bội nhiễm: Dùng kháng sinh đường tiêm theo kháng sinh đồ hoặc phác đồ thường được chọn là Lincocin + Gentamyxin, Cephalosporin + Gentamyxin. Nếu có sốt cao co giật dùng Gacdenal hoặc Aminazin.

- Nếu là biến chứng viêm não: Tích cực chống phù não, đề phòng và cắt cơn co giật. Việc sử dụng Corticoid trong điều trị viêm não vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất.

* Nuôi dưỡng - săn sóc:

- Cho trẻ ăn nhiều bữa. Nếu nôn nhiều có thể phải cho ăn quan Sonde hoặc nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch.

- Đặt trẻ ở nơi thoáng mát, tránh gió lùa.

- Dùng thêm các vitamin A, D,C, B1, B6.

- Theo dõi sát tình trạng mạch, hô hấp.

* Dùng Gamma globulin đặc hiệu trong thời kỳ đầu của bệnh, tiêm dưới da 2-3 ml/lần mỗi lần cách nhau 48 giờ (tổng liều 2-4 lần).

IV 3. DỰ PHÒNG

Vacxin ho gà đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. ở nước ta, ho gà được xếp vào một trong 6 bệnh nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em.
Trẻ em trên 3 tháng tuổi được tiêm 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Tiêm nhắc lại sau 1 năm, 3 năm và 5 năm.

Để phòng bệnh cho tập thể, cần phải cách ly những trẻ bị ho gà trong thời gian ít nhất 4 tuần kể từ khi có cơn ho điển hình. Những trẻ tiếp xúc phải được tiêm Gamma globulin đặc hiệu 0,3 ml/kg/lần, tiêm 2 lần cách nhau 48-72 giờ (tác dụng bảo vệ chống ho gà đạt 60% theo Combe và Fauchier), trong đó đặc biệt chú ý những trẻ sơ sinh và trẻ suy dinh dưỡng. Ngoài ra, có thể dùng Erythromyxin để phòng ho gà cho những trẻ em tiếp xúc với bệnh nhân

------
Sưu tầm

466289 top -

Trầm cảm và tự tử ở nam giới (phần 1)
thuocvasuckhoe



Trầm cảm là gì ?
Trầm cảm là từ dùng để chỉ một trạng thái tinh thần sa sút trong đó người bệnh cảm thấy buồn cực độ, không còn tâm trạng để có thể làm chủ được cuộc sống hàng ngày của mình.

Trầm cảm là một trong những bệnh hay gặp nhất, nếu không muốn nói là bệnh có số lượng bệnh nhân đông nhất vào thế kỉ 21 này. Không chỉ nhiều bệnh nhân bị, mà trầm cảm còn là nguyên nhân gây tử vong cho một số lượng đáng kể bệnh nhân. Trầm cảm sẽ dẫn đến các bất đồng trong gia đình, những khó khăn trong công việc và tâm trạng buồn bực. Ðáng tiếc là bệnh này ít khi được nhìn nhận đúng đắn mà nhiều người vẫn coi đó là một điều gì đó đáng xấu hổ, còn nếu nhìn nhận đúng thì nó cũng không được điều trị một cách thích đáng.

Tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh cao hơn nam giới, thế nhưng những kết cục bi thảm thậm chí cả tự tử thì gặp nhiều ở nam giới hơn.

Làm thế nào để chẩn đoán đuợc bệnh này ?
Chẩn đoán bệnh có thể đặt ra nếu có những dấu hiệu chính như sau :

- Tinh thần bi quan, sa sút nghiêm trọng.

- Không có hứng thú và sự vui thích vào điều gì .

- Cơ thể uể oải, giảm hoạt động.

Ngoài ra còn có thể có các dấu hiệu sau :

- Mất sự tập trung, kém chú ý vào mọi việc, mọi vấn đề.

- Tự ti, không tin tưởng vào bản thân.

- Hoang tưởng cho rằng mình là người tội lỗi, là người vô dụng.

- Có cái nhìn bi quan, buồn thảm về tương lai.

- Có ý muốn hay có kế hoạch tự tử.

- Khóc lóc vô cớ.

- Rối loạn giấc ngủ.

- Ăn uống không ngon miệng.

- Lãnh cảm trong quan hệ tình dục, cũng như không còn hứng thú về giới tính.

Chẩn đoán bệnh trầm cảm ở nam giới rất khó khăn vì họ không hay than phiền về những điều mà họ đang chịu đựng, họ không thích nói về những khó khăn mà họ đang có. Nam giới thường có khuynh hướng chịu đựng và nếu được tham vấn với thầy thuốc thì họ thường tập trung vào những vấn đề về thể chất hơn.

Trầm cảm phổ biến đến mức nào ?
Trong cộng đồng được điều tra thì khoảng 2% dân số có thể rơi vào tình trạng trầm cảm nặng vào bất kì lúc nào. Nhiều người ở trong tình trạng uể oải mệt mỏi với nhiều mức độ khác nhau. Khoảng 8% số người được điều tra thì kết hợp cả hai trạng thái tinh thần vừa lo âu vừa bị trầm cảm. Nhiều người, dù không có đủ các triệu chứng để kết luận tình trạng tâm lí của họ là lo âu bồn chồn hoặc trầm cảm, thì họ cũng vẫn có những vấn đề rắc rối trong công việc và các hoạt động xã hội, kèm theo các bất thường về thể chất không có lí do cụ thể.

Tỉ lệ bị trầm cảm suốt đời là 8% ở nam giới và 12% ở nữ giới. Tỉ lệ này ngày càng gia tăng. Ðiều này thật đáng lo ngại và cần được quan tâm. Ngày càng có nhiều thanh niên trẻ bị trầm cảm hơn trước kia. Sự gia tăng này phải chăng là do cuộc sống xã hội ngày nay có nhiều va chạm, gia đình mâu thuẫn và tan vỡ hơn là những thập niên trước đây.

Ðiều trị chứng trầm cảm như thế nào ?
Những biến cố nhỏ trong cuộc sống ảnh hưởng đến tâm trạng bệnh nhân có thể khắc phục được đôi khi chỉ bằng những thay đổi trong môi trường xã hội và tình trạng gia đình. Nhiều bệnh nhân lại phải cần điều trị thoả đáng bởi các bác sĩ đa khoa. Và chỉ có một số ít bệnh nhân là cần đến các nhà tâm lí học.

Những bệnh nhân sau cần được khám bác sĩ chuyên khoa tâm lí :

- Có nhiều khả năng dẫn đến tự sát nếu không điều trị.

- Không đáp ứng với các điều trị thông thường.

- Những bệnh nhân mà việc chẩn đoán tình trạng tâm lí khó khăn không thể thiết lập được.

Nếu trầm cảm này xảy ra trên bệnh nhân có một thể trạng bất thường khác, có thể gây ảnh hưởng đến việc điều trị trầm cảm, hay những bệnh nhân bị rối loạn tâm thần, bệnh nhân hay hoang tưởng, bệnh nhân hay có ảo giác, ảo tưởng, cũng cần phải tham khảo các chuyên gia về tâm lí.

Liệu pháp tâm lí và tư vấn tâm lí :
Theo điều tra, thì hầu hết người được hỏi đều chọn liệu pháp tâm lí (trò chuyện với bệnh nhân về những vấn đề của họ) hoặc nếu cần thì kết hợp với thuốc là thích hợp để điều trị trầm cảm. Nhiều bằng chứng chứng minh sự hiệu quả của liệu pháp tâm lí đối với bệnh nhân trầm cảm từ mức độ nhẹ đến nặng. Ðiều này thấy rõ ràng ở các bệnh nhân bệnh nhẹ hơn, nó ngăn không cho tình trạng bệnh xấu đi, không tiến tới giai đoạn bệnh nặng hơn. Nam giới cũng vậy, họ thường yêu cầu điều trị theo phương pháp này, và với nó họ thấy dễ chịu hơn.

Thuốc chống trầm cảm :
Bắt đầu có từ năm 1950, đến nay các thuốc mới với ít tác dụng phụ ngày càng xuất hiện nhiều. Các thuốc này tỏ ra hiệu quả với nhiều người và dễ dung nạp hơn. Tuy nhiên, dù dùng loại thuốc nào cũng cần phải duy trì thuốc sau khi các triệu chứng biến mất 6 -9 tháng, nếu không bệnh sẽ nhanh chóng trở lại.

Tác dụng của thuốc chống trầm cảm lên nam và nữ là tương đương.

Khoảng một nửa số bệnh nhân chỉ bị trầm cảm một lần duy nhất, một số khác lại bị tái đi tái lại. Do đó việc hỏi bệnh sử về những lần trước đây rất quan trọng, nó quyết định người bác sĩ nên cho thuốc như thế nào, chỉ điều trị lần này thôi hay là nên cho thuốc lâu dài trong nhiều năm, để phòng ngừa cho những đợt bệnh sau ?

Phải kết hợp yếu tố môi trường, xã hội, phương pháp tâm lí, và dùng thuốc trong điều trị trầm cảm để làm giảm gánh nặng và tỉ lệ tử vong cho bệnh nhân. Những tiến bộ đạt được trong việc nghiên cứu thuốc điều trị cũng như các liệu pháp tâm lí (giải quyết các vấn đề của bệnh nhân, các liệu pháp về nhận thức - hành vi) đã mở ra một tương lai sáng sủa cho các bệnh nhân bị trầm cảm.

Tuy nhiên, có khoảng 10% - 20% các trường hợp bệnh trở thành mãn tính, không điều trị được.

Rối loạn tâm thần :
Ðây là một dạng rất nặng của bệnh và phải đòi hỏi điều trị nội trú tại bệnh viện. Nếu chỉ dùng thuốc chống trầm cảm riêng cho bệnh nhân này thôi thì vẫn chưa hiệu quả, mà việc điều trị lựa chọn cho các bệnh nhân này là dùng liệu pháp sốc điện hoặc phải kết hợp thuốc trị tâm thần (một dạng thuốc điều trị ảo giác, hoang tưởng) với thuốc trị trầm cảm.



-------
Sưu tầm

466483 top -

Trầm cảm và tự tử ở nam giới (phần 2)
thuocvasuckhoe



Tự tử và nam giới :
Tự tử chiếm khoảng 1% trong số các nguyên nhân gây tử vong và đa phần các nạn nhân là nam giới. Một điều đáng lo ngại là tự tử có khuynh hướng gia tăng ở bộ phận nam giới trẻ (không ghi nhận điều tương tự ở nữ giới). Phần lớn các nạn nhân nam này không tìm bất kì sự giúp đỡ nào trước khi tự tử. Tỉ lệ tự tử cũng gia tăng đáng kể ở nam giới vào độ tuổi 65 - 75, trong khi đó ở nữ giới thì tỉ lệ có xu hướng giảm vào độ tuổi này.

Gia tăng tỉ lệ tự tử ở nam là một hiện tượng trên toàn thế giới, không riêng một quốc gia hay khu vực nào, ngoại trừ Hungary và một số nước châu Á. Nguyên nhân tại sao nam giới lại hay tự tử hơn nữ giới khá phức tạp, và vẫn còn chưa rõ ràng, tuy nhiên người ta ghi nhận một số yếu tố nguy cơ sau khiến bệnh nhân tự tử :

- Tuổi : có hai đỉnh là 20 tuổi và 60 - 70 tuổi.

- Thất nghiệp : tỉ lệ tự tử ở các nước khác nhau tùy vào tỉ lệ thất nghiệp của mỗi nước. Ở Nhật Bản, vào năm 1999, trong số 33.000 người tự tử thì hơn một nửa số đó là người thất nghiệp.

- Quan hệ xã hội : những người tự tử này phần lớn sống độc thân và có rất ít giao thiệp với mọi người. Họ có thể vừa goá vợ hay chồng, hoặc là những người sống độc thân.

- Trắc trở trong chuyện tình cảm mà không tự giải quyết được, hoặc các mâu thuẩn trong gia đình, bị hàm oan.

- Bệnh mãn tính.

- Nghề nghiệp : một số nghề nghiệp đặc biệt ví dụ người thường xuyên làm việc một mình, có thể sống độc thân, đồng thời có một phương tiện gì đó để tự vẫn (thuốc ngủ, thuốc trừ sâu, diệt chuột, diệt cỏ, một khẩu súng ngắn chẳng hạn..).

Các yếu tố nguy cơ trên đa phần tác động đến nam giới nhiều hơn nữ giới. Nhưng cũng phải nhớ rằng có rất nhiều người nằm trong các nhóm nguy cơ nhưng chỉ có một phần rất nhỏ là tự vẫn. Ðiều đó cho thấy còn rất nhiều yếu tố khác chi phối, trong đó bệnh tâm thần là một yếu tố nguy cơ quan trọng và ngược lại có sự chia sẻ của bạn bè và gia đình lại là những tác động tích cực.

Bệnh tâm thần.
Các nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ cao các trường hợp tự tử, nạn nhân có bệnh tâm thần kèm theo. Hai phần ba bệnh nhân bị trầm cảm và 20% nghiện rượu.

Ngược lại, trong số những bệnh nhân trầm cảm nặng, thì 10 - 15 % sẽ tự tử. Ðiều nghịch lý là trong khi trầm cảm gặp nhiều ở nữ giới, thì tự tử lại cao ở nam giới. Có một số lí giải sau :

- Dù tỉ lệ nữ bị trầm cảm nhiều hơn, nhưng tỉ lệ bệnh trầm cảm nặng thì lại như nhau ở cả hai giới. Hơn nữa nam giới thường có khuynh hướng tự kết thúc cuộc đời khi họ bị trầm cảm. Và khi tự tử họ thường chọn những cách tự tử khó cứu được như treo cổ hay bắn bằng súng.

- Ngày nay tỉ lệ trầm cảm ở người trẻ (dưới 25 tuổi) gia tăng hơn so với 50 năm trước đây, có thể vì vậy mà tỉ lệ nam thanh niên tự tử cũng gia tăng.

- Tâm thần phân liệt (khoảng 1 % dân số bị bệnh này) có tỉ lệ tử tự là 10%.

Tại sao tỉ lệ tử tự ở nam giới ngày càng gia tăng ?

Nguyên nhân thực sự chưa rõ ràng, phần lớn các lý giải đều xoay quanh sự thay đổi vai trò của nam giới trong xã hội:

- Thế hệ ngày nay trưởng thành chậm hơn, giai đoạn thiếu niên kéo dài hơn các thế hệ trước. Tuổi tự lập là 14 và 16 ở hai thế hệ trước, thì ngày nay nhiều người phải đến những năm 20 tuổi mới có thể độc lập về tài chính.

- Nam giới gặp nhiều stress hơn trong việc học tập để đạt thành tích cao so với trước đây, nhưng thành công đối với họ lại khó hơn nữ giới.

- Công việc bấp bênh và nguy cơ bị sa thải ám ảnh họ (tâm lí chung thì nỗi ám ảnh bị sa thải còn nghiêm trọng hơn tình trạng thất nghiệp).

- Uống rượu và lạm dụng rượu, gia tăng từ sau Thế chiến thứ hai, như là cách để đối phó với stress.

- Việc dùng các thuốc gây nghiện ngày càng phổ biến. Có một mối tương quan giữa tỉ lệ tự tử và tỉ lệ phạm tội vì dùng các thuốc gây nghiện.

- Những biểu hiện của một xã hội có nhiều đổ vỡ như li dị, mất lòng tin vào nhà thờ.

Nam giới không được khóc (???) :
Ở nhiều xã hội, việc bộc lộ cảm xúc ở nam giới khó được chấp nhận hơn nữ giới (người đàn ông phải là người mạnh mẽ), nhất là các cảm xúc bi quan như buồn thất vọng, hối hận, sợ hãi.

Quan niệm này rất khó thay đổi, cho dù mẫu người đàn ông mới từ những năm 90 được chấp nhận là những người cởi mở, có thể bộc lộ cảm xúc nhiều hơn.

Ngày nay, khi một người đàn ông, nhất là những người lớn tuổi, mà khóc một cách công khai thì đó thường là dấu hiệu người đó bị trầm nhược nặng và thực sự cần sự giúp đỡ của người bác sĩ tâm lí.

Tình trạng không tự kiểm soát được bản thân.
Nhiều người tự tử, nhưng thực ra không có ý định thực hiện điều này. Thường là do họ phỏng thử theo điều này khi có ý nghĩ muốn làm tổn thương bản thân (chỉ làm tổn thương thôi nhưng không muốn chết !!!). Họ làm như vậy vì muốn thay đổi vị trí vai trò của mình trong cuộc sống hay vì muốn có được sự quan tâm chăm sóc của những người khác hoặc chỉ muốn dọa mọi người xung quanh mình. Người ta gọi đó là sự bán tự sát. Có những người, sau khi làm vậy, họ cảm giác như giải tỏa được những vấn đề của mình.

Chỉ khoảng 10 - 15 % những người "thử" tự tử sẽ thành tự tử thực sự, 85 - 90% còn lại thì không .

Tự tử ảnh hưởng lên những người xung quanh như thế nào ?
Nói rằng việc tự sát không ảnh hưởng đến ai ngoại trừ người đã thực hiện hành vi tự sát này là hoàn toàn sai. Những người thân của nạn nhân sau đó sẽ trãi qua những giai đoạn khó khăn, họ làm mọi cách để quên đi điều bất hạnh, coi cái chết đó là một tai nạn, họ giận dữ, nhưng lại thấy xấu hổ với mọi người xung quanh, họ cảm thấy tội lỗi, và nặng hơn họ cũng có thể rơi vào trạng thái bất an trầm cảm.

Những rào cản làm việc điều trị trầm cảm ở nam giới không hiệu quả:
1. Nam giới thường ít công nhận rằng họ đang buồn, đang bất hạnh, và để mặc nó.

2. Nam giới thường không thích đến bác sĩ để kể về những phiền muộn, lo âu của mình.

3. Nếu đến thì họ thường kể về những bất thường thể chất hơn (chẳng hạn như đau dạ dày), về tình trạng suy giảm sức khỏe mơ hồ của mình.

4. Các bác sĩ không chuyên khoa thường không phát hiện được những bất ổn về tâm lí khi tiếp xúc với những bệnh nhân này.

5. Ở một số người trẻ đã tự tử không hề có dấu hiệu chứng tỏ trước đây họ bị một bệnh tâm lí nào. Vậy lí do tại sao họ lại tự kết liễu cuộc đời mình và có thể họ đã bị đặt trong tình thế "tiến thoái lưỡng nan" vì một vấn đề tâm linh nào đó, đã có những tổn thương trong tâm hồn, và tự tử là phương thức được lựa chọn để giải quyết.

Trách nhiệm của xã hội.
Chính một số điều trong xã hội hiện đại ngày nay làm nhiều nam giới trẻ chọn lựa cái chết để kết thúc cuộc đời mình. Chúng ta cần phải biết rõ đó là những điều gì, và cần quan tâm đến những thay đổi trong cách sống của chúng ta để có thể làm giảm những tổn hại (vật chất lẫn tinh thần) gây ra do tình trạng tự tử ngày càng tăng.

1. Khoảng 80% phụ nữ trước khi tự vận đã được điều trị tâm lí.

2. Trong khi đó ở nam giới tỉ lệ này chỉ có 50%.

3. Và đặc biệt ở nam thanh niên dưới 25 tuổi, thì tỉ lệ này là 20%.

Cần vận động mọi người quan tâm chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống với nam giới nhất là những người còn trẻ.

Bản thân bạn thì sao ?
Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào của trầm cảm đã nêu ở trên, bạn cần gặp bác sĩ. Nếu bạn không chỉ có một mà ba hay bốn triệu chứng kể trên, hay bạn đã từng có ý định tự tử thì phải gặp bác sĩ tâm lí ngay.

Nếu bạn thấy một người nào đó có dấu hiệu trầm cảm, bạn nên khuyên họ tìm đến bác sĩ. Không nên coi bất kì lời đe doạ tự tử của một người nào là trò đùa, phải dè chừng với điều đó.

Cần nhớ rằng trầm cảm có thể điều trị được và tự tử là điều hoàn toàn có thể tránh khỏi.


------
Sưu tầm

466484 top -

Bệnh viêm xoang
thuocvasuckhoe




Viêm xoang là gì ?
Viêm xoang, sự viêm các xoang cạnh mũi, là một trong những bệnh thường gây đau khổ trong cuộc sống sinh hoạt bệnh nhân. Mỗi năm ước lượng nhiễm trùng hô hấp trên cỡ 3 -4 % ở người lớn trong đó viêm xoang chiếm khoảng 1%.

Ngoài viêm xoang phối hợp với nhiễm siêu vi đường hô hấp, phần nhiều viêm xoang là kết quả của dị ứng mùa hay viêm mũi dị ứng. Những kích thích đường mũi có thể dẫn đến viêm xoang gồm việc sử dụng hoặc lạm dụng quá mức thuốc xịt mũi và những chất không phù hợp khi nghẹt mũi.

Các xoang cạnh mũi là gì ?
Các xoang cạnh mũi là các khoang lấp đầy không khí với phần đặc là các xương của hộp sọ, các khoang này làm giảm trọng lượng hộp sọ, phần không khí trong khoang chủ yếu là ở 4 cặp khoang hai bên. Hai xoang trán ở ngay phía sau trán, hai xoang lớn nhất ở phía sau hai má.

Hai xoang bướm và hai xoang sàng nằm ở sâu hơn phía sau mắt và hai xoang lớn nhất. Các xoang được lót bởi các tế bào tiết nhầy. Không khí vào xoang xuyên qua lỗ xương nhỏ thông với đường mũi, gọi là lỗ. Nếu những lỗ này bị tắc, không khí không thể vào xoang được và đồng thời chất nhày do tế bào lót xoang tiết không thể thải ra ngoài.

Nguyên nhân gây viêm xoang ?
Bất kì nguyên nhân nào cản trở luồng không khí vào xoang và sự dẫn lưu chất tiết ra khỏi xoang đều có thể gây viêm xoang. Các lỗ xoang có thể bị tắc nghẽn do những nguyên nhân nào làm sưng phù mô tuyến của lỗ hoặc mô kề cận đường mũi, ví dụ như lạnh, dị ứng, chất gây kích thích mô (thuốc xịt mũi, chất than, khói thuốc lá).

Các xoang có thể bị tắc nghẽn do u bướu ở gần lỗ xoang. Sự dẫn lưu chất nhày từ xoang kém có thể do chất nhày tiết ra đặc hơn, giảm lượng nước trong chất nhày do bệnh lý (xơ hoá nang), do thuốc, và giảm độ ẩm không khí.

Những tế bào tiết dịch có những sợi nhỏ giống như tóc, gọi là lông mao, di chuyển về phía trước giúp đẩy chất nhầy ra khỏi xoang. Những lông mao có thể bị tổn thương do nhiều kích thích, đặc biệt là khói, cản trở việc dẫn lưu chất nhầy ra khỏi xoang. Ứ đọng chất nhày tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và vài loại nấm phát triển trong các xoang.

Phân loại viêm xoang
Viêm xoang được phân loại ít nhất theo hai cách, thường nhất theo thời gian tiến triển của bệnh ( cấp, bán cấp, mạn), và theo tình trạng viêm ( nhiễm trùng, không nhiễm trùng). Viêm xoang cấp thường định nghĩa kéo dài ít hơn 3 ngày; viêm xoang bán cấp kéo dài hơn một tháng nhưng ít hơn 3 tháng; và viêm xoang mạn kéo dài hơn 3 tháng.

Viêm xoang do nhiễm trùng, nguyên nhân thường do vi khuẩn phát triển, trong khi viêm xoang không nhiễm trùng nguyên nhân thường do các yếu tố kích thích (điều kiện tổn thương) hay dị ứng. Viêm xoang cấp thường thứ phát sau viêm mũi dị ứng hay nhiễm siêu vi đường mũi. Viêm xoang bán cấp và mạn thường là kết quả của việc điều trị viêm mũi cấp không triệt để.

Triệu chứng của viêm xoang cấp ?
Triệu chứng thường gặp viêm xoang là đau đầu, tăng nhạy cảm vùng mặt hay đau, và sốt. Tuy nhiên, 25% bệnh nhân có sốt trong viêm xoang cấp.

Những triệu chứng khác như chất tiết mũi trở nên đục, đổi màu, cảm giác nghẹt mũi, đau họng, và ho.

Vài người có tăng nhạy cảm hay đau đầu khi họ nghiêng về phía trước. Trong viêm xoang dị ứng có thể kèm những triệu chứng dị ứng ngứa mắt và nhảy mũi.

Chẩn đoán viêm xoang ?
Viêm xoang thường được chẩn đoán dựa trên bệnh sử và khám bệnh bởi bác sĩ. Bởi vì X- quang thô có thể nhầm lẫn trong khi đó CT hay MRI thì nhạy cảm hơn trong chẩn đoán viêm xoang nhưng đắt, đa số viêm xoang được chẩn đoán và điều trị ban đầu dựa trên dấu hiệu lâm sàng.

Những dấu hiệu lâm sàng có thể là đỏ và sưng phù đường mũi, chất nhày mủ từ đường mũi, tăng cảm giác đau khi ấn lên má hay trán (ứng vị trí các xoang), sưng quanh mắt và má. Nếu điều trị viêm xoang bước đầu thất bại thì nên chụp cắt lớp(CT,MRI).

Nội soi mũi cho phép quan sát trực tiếp đường mũi, với ống soi mềm nhỏ được làm bằng sợi quang học(với một sợi quang mềm nhỏ), có thể nhìn trực tiếp lỗ xoang và kiểm tra sự tắc nghẽn, sưng nề, u bướu. Ðôi khi cần thực hiện hút xoang để xác định chẩn đoán viêm xoang, và cấy dịch nhiễm trùng trong xoang để xác định vi khuẩn nào gây ra nhiễm trùng xoang. Cấy dịch đường mũi hiếm khi xác định được vi khuẩn hay nấm gây nhiễm trùng xoang.

Điều trị viêm xoang như thế nào?
Viêm xoang cấp thường được điều trị bằng kháng sinh nhằm mục đích điều trị loại vi khuẩn thường gặp nhất đã biết gây viêm xoang, có thể điều trị như vậy mà không cần hút dịch xoang để thử vi trùng.

Năm loại vi trùng thường gây viêm xoang là : Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Moraxella catarrhalis, Staphylococcus aureus và Streptococcus pyogenes .Kháng sinh có hiệu quả trong điều trị viêm xoang là những kháng sinh có khả năng tiêu diệt những loại vi trùng này, Amoxicilline có thể được chọn lựa đầu tiên cho những trường hợp viêm xoang cấp không biến chứng.

Ở những bệnh nhân dị ứng với pénicilline các kháng sinh như : cefaclor (Ceclor), loracarbef (Lorabid), clarithromycin (Biaxin), azithromycin (Zithromax), trimethoprim-sulfamethoxazole (Bactrim có thể được chọn lựa đầu tiên.

Nếu viêm xoang không cải thiện sau 5 ngày điều trị bằng amoxicilline, bệnh nhân có thể được dùng một loại kháng sinh khác cùng họ như Augmentin. Thông thường, cần phải điều trị liên tục tối thiểu 10-14 ngày. Tuy nhiên, hiếm khi điều trị viêm xoang kéo dài tới 14-21 ngày.

Điều trị sung huyết mũi bằng pseudoephedrine, tiêu nhày (guaifenesin ) dùng bằng đường uống có thể hỗ trợ trong việc dẫn lưu dịch xoang, thường người ta tránh dùng thuốc kháng histamine trừ khi viêm xoang do dị ứng từ bụi nhà, lông thú hay nguyên nhân khác do môi trường.Viêm xoang có thể dùng thuốc xịt mũi nhóm steroid, nhằm giảm sung huyết do dị ứng nhưng không dùng kéo dài.

Việc điều trị viêm xoang mãn đòi hỏi phải trị lâu dài bằng thuốc như Augmentin, cũng như cần phải dẫn lưu xoang.

Biến chứng của viêm xoang là gì?
Biến chứng nặng của viêm xoang thường không còn xuất hiện nữa do điều trị viêm xoang có hiệu quả. Biến chứng có thể có của viêm xoang là nhiễm trùng não, lúc này cần điều trị cấp cứu.

Kết luận
Viêm xoang, nếu được điều trị đúng cách, sẽ cải thiện sớm và có hiệu quả. Điều quan trọng là phải có sự theo dõi và đánh giá của bác sĩ của bạn nếu bạn nghi ngờ bị viêm xoang. Nếu bạn hay bị viêm xoang tái phát, viêm xoang này là quan trọng đối với bạn, cần phải thử test dị ứng da để tìm xem nguyên nhân tìm ẩn gây viêm mũi tái phát .

Tóm tắt viêm xoang
Xoang là khoang rỗng có chứa không khí nằm ở đầu.

Nguyên nhân gây ra viêm xoang là do chất tiết trong xoang bị ứ đọng không được dẫn lưu ra ngoài.

Viêm xoang có thể là do nhiễm trùng hoặc không do nhiễm trùng.

Viêm xoang có thể là nguyên nhân gây đau ở mặt, đầu răng.

Viêm xoang cấp thường được điều trị bằng kháng sinh.





----------
Theo BSGĐ

469558 top -

Tìm hiểu bệnh viêm xoang
Thuốc và Sức khoẻ



Viêm xoang là một bệnh mãn tính thường gặp ở nước ta, tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ về nguồn gốc, các phòng ngừa và điều trị bệnh này.

Mặt và sọ gồm nhiều khối xương tiếp với nhau. Để khối mặt sọ giảm sức nặng, tạo hoá đã tạo ra những lỗ trống trong lòng các xương. Những lỗ trống này được gọi là xoang. Xoang lớn nhỏ tuỳ từng vị trí và đều có đường thông vào hốc mũi và bao bởi niêm mạc, chứa không khí. Xoang chỉ bình thường khi lỗ thông mũi không bị nghẽn.

Nếu đường thông vào mũi bị nghẽn, vi khuẩn sẽ gây tác hại trong xoang, dẫn tới viêm nhiễm. Có thể viêm một xoang (thường là xoang hàm) hoặc đa xoang và nhiều loại như: viêm xoang dị ứng, dày niêm mạc xoang, trong xoang có mủ, u nhầy hoặc polýp (dạng u nhí lành tính, có cuống).

Phân loại viêm xoang
Viêm xoang được phân loại dựa vào thời gian tiến triển của bệnh (cấp, bán cấp, mạn) và theo tình trạng viêm (nhiễm trùng, không nhiễm trùng).

Viêm xoang cấp kéo dài ít hơn 3 ngày; bán cấp từ 1 đến 3 tháng, mạn là hơn 3 tháng. Viêm xoang nhiễm trùng do vi khuẩn phát triển, gây kích thích (điều kiện tổn thương) hay dị ứng. Viêm xoang cấp thường thứ phát sau viêm mũi dị ứng, nhiễm siêu vi đường mũi. Viêm xoang bán cấp và mạn là kết quả của việc điều trị viêm mũi cấp không triệt để.

Nguyên nhân
- Mọi lý do cản trở luồng không khí vào và mang, dẫn lưu chất tiết ra khói xoang đều khiến chất dịch thoát không kịp, làm cho lỗ thông phù nhỏ thêm. Ứ đọng chất nhầy là môi trường thuận lợi để vi khuẩn, cũng như một số loại nấm phát triển trong các xoang.

- Cơ địa dị ứng một chất nào đó, thường là hóa chất, thức ăn biến chất, làm cho niêm mạc mũi phù nề, gây bít tắc lỗ thông xoang và nhiễm trùng.

- Sức đề kháng kém, cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại vi khuẩn, suy giảm miễn dịch, suy yếu niêm mạc dường hô hấp, rối loạn hệ thần kinh thực vật. Bệnh nhân viêm xoang kèm theo viêm một số bộ phận khác.

- Tuyến nhầy của viêm mạc xoang hoạt động quá nhiều.

- Do viêm mũi sau nhiễm siêu vi (cúm, sởi...), bị bội nhiễm, viêm mũi dị ứng kéo dài hoặc do tình trạng vẹo vách ngăn. Có trường hợp viêm xoang là hậu quả của sâu răng, nhiễm trùng răng hàm trên. Dùng aspirin trong trường hợp không dung nạp được thuốc, làm nặng thêm polýp mũi xoang có sẵn.

Triệu chứng
Biểu hiện thường gặp khi bị viêm xoang là đau đầu, sốt nhẹ (25% bệnh nhân sốt bởi viêm xoang cấp), cũng có trường hợp sốt cao, nhất là ở trẻ em. Tăng nhạy cảm vùng mặt là triệu chứng chính, đau nhiều về sáng do đêm bị ứ đọng xuất tiết, đau thành từng cơn. Một số người hay choáng đầu khi nghiêng về phía trước. Vùng quanh mắt nhức thành cơn và theo nhịp mạch đập. Ấn thấy đau phía dưới mắt, cơn đau có chu kỳ vào thời gian nhất định trong ngày.

Bên cạnh đó, bệnh nhân thường thấy ngạt, tắc mũi, chất tiết mũi trở nên đục, đổi màu xanh đục, nước mũi chảy ra trước hoặc sau cổ họng, gây ngứa họng và kích thích họng. Tùy theo tình trạng viêm mà tắc một hay cả hai bên, mức độ nhẹ hay vừa, từng lúc hay tắc liên tục, không ngửi được mùi, ngạt nhiều bên đau, ngạt tăng vào ban đêm.

Trường hợp viêm xoang do răng số 5,6,7 hàm trên sẽ thấy bị áp xe quanh răng. Lợi bị viêm, mủ chảy từ xoang ra rất thối, chảy mủ mũi vàng đục, có mùi hôi. Xì mạnh thường gây đau và lẫn tia máu. Người bệnh không tập trung suy nghĩ được. Đôi khi ăn không ngon, ngủ không yên giấc, ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Nếu viêm xoang mạn tính thì nhóm xoang trước hầu như không khó chịu gì, không nhức đầu, chảy nước mũi, đôi khi mệt mỏi, có thể có triệu chứng xa như ở đường tiêu hoá, phế quản, thận khớp. Nhóm xoang sau bệnh nhân không chảy mủ, nhưng có dịch cuống họng, nhức mắt, đau nhức vùng gáy. Một số trường hợp mờ mắt do viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu.

Điều trị.
Chữa trị viêm xoang, nếu được điều trị đúng sẽ cải thiện sớm và hiệu quả, nhưng đòi hỏi bệnh nhân phải kiên trì kiêng cữ, tuân thủ đúng liều thuốc, thời gian, cũng như lời khuyên của bác sĩ. Có nhiều phương pháp điều trị xoang như:

Nội khoa: Kháng sinh, giảm đau, co mạch, chống dị ứng.
Thủ thuật: Xông mũi xoang, kê kê, chọc rửa xoang.

Đối với bệnh nhẹ không cần sử dụng đến kim, kéo, mà chỉ rửa xoang, làm sạch mũi. Biện pháp này không gây đau và chảy máu. Bên cạnh đó, dùng thuốc kháng sinh đủ liều, đều đặn để diệt vi khuẩn gây bệnh.

- Giữ nhiệt độ trong nhà vừa phải, xông mũi bằng hơi nước nóng, uống nước nhiều để làm loãng chất tiết. Thuốc chống sổ mũi giúp mủ và chất nhầy thoát ra, nhưng phải cẩn thận khi dùng vì dễ gây hại nhiều hơn khi làm khô mũi quá mức và các chất không thoát ra ngoài được.

Kèm theo điều trị bằng thuốc, có thể rửa xoang bằng phương pháp Proetz rất hiệu quả, bệnh nhân sẽ cảm thấy dễ chịu sau vài lần rửa.

- Nếu không hiệu quả, bệnh nhân sẽ được phẫu thuật nội soi, nạo vét mủ đọng, chống viêm nhiễm lan toả. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế, khả năng phục hồi đạt 80%.

Phòng ngừa bệnh xoang
- Đeo khẩu trang trước khi ra đường và làm công việc gặp nhiều bụi bặm. Giữ môi trường xung quanh luôn sạch sẽ, tránh xa khói bụi, chất thải, ăn uống đủ dinh dưỡng.
- Không dùng các loại tinh dầu quế, hồi làm cao để xoa cho trẻ mỗi khi tắc nghẹt mũi vì sẽ gây kích thích xung huyết da và niêm mạc đường hô hấp của trẻ.
- Đối với người mẫn cảm cần chú ý phòng tránh phấn hoa, nấm mốc, nước hoa, thức ăn lạ, nhiều gia vị, nhiệt độ thay đổi. Khi ngứa mũi, muốn hắt xì nhưng không được cũng tuyệt đối không nên cho tay vào ngoáy vì dễ mang vi trùng vào, khiến cho bệnh càng nghiêm trọng thêm. Nhớ chỉ xì mũi ra, không hít ngược như trẻ nhỏ thường làm. Không cố gắng xì mạnh vì sẽ đẩy chất viêm vào vòi nhĩ và tai.
- Bệnh có thể lây lan, vì vậy không dùng chung vật dụng cá nhân với người bị viêm xoang.
- Khi có các triệu chứng ban đầu như hắt hơi, chảy nước mũi, tắc mũi, cần đến ngay bệnh viện, không nên tự mua thuốc điều trị.


469560 top -

Viêm mũi
Thuốc & Sức khoẻ



1.Giải phẫu và sinh lý mũi.
1.1. Giải phẫu mũi: Gồm có tháp mũi và hốc mũi.

Tháp mũi: như­ một mái che kín hốc mũi, có khung là xư­ơng chính mũi, ngành lên xương hàm trên, sụn cánh mũi và sụn uốn quanh lỗ mũi.

Hốc mũi: vách ngăn chia hốc mũi thành hốc mũi phải và hốc mũi trái, là hai khoảng thông từ tr­ước ra sau. Phía trư­ớc có hai lỗ mũi, phía sau có hai cửa mũi sau.

Mỗi hốc mũi có 4 thành:
- Thành trên: là trần của hốc mũi, ngăn cách hốc mũi với sọ não.

- Thành dưới: là sàn mũi, ngăn cách mũi với miệng.

- Thành trong: hay là vách ngăn mũi là một vách thẳng đi từ trần mũi xuống sàn mũi và chạy dọc từ trước ra sau ngăn mũi thành hai hốc mũi phải và trái. Các mạch máu của vách ngăn mũi đều chạy tới tập trung ở vùng trư­ớc dưới của niêm mạc vách ngăn mũi, tạo thành một vùng có nhiều mạch máu gọi là điểm mạch, nơi thư­ờng xảy ra chảy máu mũi.

- Thành ngoài: là thành quan trọng hơn cả. Thành ngoài có 3 x­ương uốn cong còn gọi xương xoăn theo thứ tự trên, giữa, dưới. Ba xương xoăn được mang tên: xương xoăn trên, x­ương xoăn giữa và xương xoăn dư­ới.

Mỗi một xư­ơng xoăn hợp với thành ngoài của hốc mũi tạo thành một khe mũi hay là ngách mũi.Tên của ngách mũi đư­ợc gọi theo tên của xương xoăn tương ứng là: ngách mũi trên, ngách mũi giữa và ngách mũi dư­ới.

Ngách mũi d­ưới ở đầu có lỗ thông của ống lệ tỵ, ống này từ túi lệ xuống.

Ngách mũi giữa là nơi thông ra hốc mũi của các xoang hàm, sàng tr­ước và xoang trán.

Ngách mũi trên là nơi thông ra hốc mũi của các xoang sàng sau, còn xoang bướm có lỗ thông trực tiếp ra phần trên và sau của hốc mũi.

Loa vòi ở cách đuôi xư­ơng xoăn giữa hơn 1cm vào phía sau và hơi chếch xuống dưới. Sau đuôi xư­ơng xoăn trên có lỗ bướm khẩu cái, ở đó thoát ra động mạch bướm khẩu cái và dây thần kinh b­ướm khẩu cái (nhánh mũi).

Từ lưng xư­ơng xoăn giữa trở lên niêm mạc mũi chứa những tế bào khứu giác.

1.2. Sinh lý mũi.
Mũi có chức năng: hô hấp, phát âm và ngửi. Không khí đ­ược sưởi ấm, làm ẩm và lọc sạch trước khi vào phổi.

Hô hấp: là chức năng chính, thành bên của hốc mũi giữ vai trò cơ bản trong trong sinh lý thở vào. Mũi làm ấm, ẩm và làm sạch không khí thực hiện đư­ợc là nhờ niêm mạc mũi, có hệ thống niêm mạc biểu mô trụ đơn có lông chuyển với các tế bào tiết, với cấu trúc rất giàu mạch máu. Lớp nhầy này bắt giữ các vật lạ để lớp tế bào lông chuyển ra phía sau mũi với nhịp độ từ 400 đến 800 nhịp/1 phút. Hệ thống màng nhầy này hoạt động rất hiệu quả, nó bảo vệ lớp biếu mô của mũi tuy nhiên cũng dễ bị ảnh h­ưởng do viêm nhiễm, độ ẩm, hoá học, bụi, vi sinh, vi khuẩn, nấm mốc...

Hệ thống tế bào ở hạ niêm mạc, sản sinh ra các thực bào và dịch thể niễn dịch nh­ư các loại IgG, IgA, IgM...

Ngửi: đư­ợc thực hiện bởi niêm mạc ngửi nằm ở phần cao của hốc mũi, với các tế bào thần kính cảm giác và đầu tận của thần kinh khứu giác, trên diện tích 2-3cm còn gọi là điểm vàng. Để ngửi đư­ợc không khí phải đến đư­ợc vùng ngửi. Các chất có mùi phải được hoà tan trong lớp màng nhầy trên tế bào cảm giác thì mới tạo được kích thích tới dây thần kinh khứu giác.

Phát âm: mũi cấu thành một số âm gọi là âm mũi.

2. Viêm mũi cấp tính.
Viêm mũi cấp tính là một trong những bệnh thường xuyên của đường hô hấp trên. Nó thường xảy ra độc lập hoặc phối hợp với một số bệnh nhiễm trùng cấp tính khác.

2.1. Bệnh nguyên và bệnh sinh.
- Cơ chế thần kinh, phản xạ là cơ sở của viêm nhiễm cấp tính ở niêm mạc mũi. Viêm mũi cấp tính thường là biểu hiện phản ứng của cơ thể khi gặp lạnh nói chung hoặc lạnh tại chỗ ở mũi. Tính thụ cảm với lạnh phụ thuộc vào sự rèn luyện của cơ thể với nhiệt độ thấp và thay đổi, đồng thời phụ thuộc sức đề kháng của cơ thể do mắc các bệnh có vi khuẩn gây bệnh thường khu trú trong miệng, mũi, họng.

- Ngoài ra các yếu tố gây nhiễm trùng có thể từ ngoài vào hốc mũi hoặc bằng đường máu nhất là viêm mũi trong các bệnh nhiễm trùng cấp tính như: cúm, sởi, bạch hầu...

- Viêm mũi cấp tính còn gặp sau tổn thương niêm mạc mũi như: dị vật, đốt cuốn nhất là đốt côte điện.

- Nguyên nhân viêm mũi cấp tính còn có thể là yếu tố trong sản xuất, tác động của bụi, khói, than bụi kim loại trong không khí, các loại hơi axit và một số hoá chất khác.

2.2. Triệu chứng.
Viêm mũi cấp tính thường gây thương tổn đồng thời cả 2 bên mũi. Các triệu chứng cơ bản là: chảy mũi nhiều và ngạt mũi, những triệu chứng này có thể biểu hiện ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc giai đoạn của bệnh cũng như tình trạng niêm mạc mũi trước đó. Người ta chia tiến triển của viêm mũi cấp tính thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: bệnh khởi đầu không có rối loạn gì đáng kể về tình trạng toàn thân. Hắt hơi, cảm giác nóng rát và nhức trong họng nhất là ở họng mũi, đôi khi khàn tiếng, thường sốt nhẹ. Trong giai đoạn đầu này, cảm giác chủ yếu là khô họng và họng mũi, niêm mạc nề đỏ và khô.
Giai đoạn 2: sau một vài giờ thậm chí một vài ngày hình ảnh lâm sàng sẽ thay đổi, giảm phù nề niêm mạc, niêm mạc trở nên ẩm và bắt đầu xuất tiết nhiều niêm dịch, bệnh nhân thấy dễ chịu hơn.

Giai đoạn 3 (giai đoạn làm mủ): dịch xuất tiết trở thành niêm dịch mủ do pha trộn với các thành phần biểu mô và bạch cầu thoái hoá. Sau đó số lượng dich tiết giảm dần, viêm niêm mạc nhanh chóng được thanh toán và qua 7 - 10 ngày thì hoàn toàn hồi phục lại.

Đối với những người có tình trạng teo niêm mạc mũi, có thể không ngạt mũi hoàn toàn, thời gian của giai đoạn cấp tính ngắn hơn, mặc dù sau đó có thể tăng cảm giác khô và kích thích niêm mạc mũi trong một thời gian dài. Ngược lại với người có tình trạng quá phát niêm mạc mũi thì biểu hiện nhất là phù nề và xuất tiết ở niêm mạc sẽ mạnh hơn nhiều.

Ở giai đoạn đầu của viêm mũi cấp tính, bệnh nhân có cảm giác nặng đầu do đó khó tập trung tư tưởng làm việc trí óc. Do phù nề niêm mạc nên thay đổi giọng nói, ngửi kém do ngạt mũi gây ra hoặc do quá trình viêm lan vào vùng khứu giác. Về sau thường xuất hiện đau vùng trán và ổ mắt, cho hay đã có biểu hiện đồng thời của viêm xoang, xuất tiết mũi làm da vùng cửa mũi trở nên đỏ và dễ phù nề, thường xuất hiện những vết nứt nhỏ, cùng hay gặp viêm kết mạc do viêm nhiễm lan qua đường dẫn lệ và viêm tai giữa cấp tính (do viêm lan qua vòi tai).

Viêm mũi cấp tính ở trẻ em còn bú có thể nghiêm trọng. Những tháng đầu do đặc điểm về cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh trung ương, sự thính nghi với những thay đổi của môi trường bên ngoài ở trẻ kém hơn so với người lớn. Hốc mũi trẻ trong những năm đầu thường rất nhỏ, thậm chí chỉ hơi phù nề một chút cũng dẫn tới ngạt mũi. Do vậy không những rối loạn thở mà còn làm cho trẻ bú khó khăn. Trẻ gầy, hay quấy khóc, ngủ ít, hay bị sốt, viêm nhiễm có thể lan tới hàm ếch, thanh khí, phế quản và phổi. Những biến chứng này gặp ở trẻ em nhiều hơn người lớn.

2.3. Chẩn đoán.
Chẩn đoán xác định: Chẩn đoán viêm mũi không khó, ngay cả khi không soi mũi, dựa trên các triệu chứng chủ quan và khách quan.

Chẩn đoán phân biệt:
- Ở trẻ nhỏ, nếu viêm kéo dài và điều trị thông thường không được thì cần nghĩ tới viêm mũi do lậu hoặc giang mai, đồng thời cùng nên nghĩ tới bạch hầu mũi thường tiến triển không có triệu chứng. Cũng đừng quên chẩn đoán phân biệt với triệu chứng sổ mũi trong các bệnh nhiễm trùng cấp tính như: sới, ho gà, tinh hồng nhiệt. Trong trường hợp này phải thu thập tỉ mỉ tiền sử dịch tễ và khám toàn thân sẽ có thể xác định chẩn đoán.

- Các bệnh hô hấp cấp tính thường bắt đầu bằng viêm mũi cấp tính trong đó những biểu hiện tại chỗ của bệnh lan rộng hơn, xâm lấn cả niêm mạc họng, thanh quản, khí quản... về bản chất viêm mũi cấp tính là một dạng khu trú của các bệnh hô hấp cấp tính. Trong chẩn đoán phân biệt cần nghĩ tới cúm.

2.4. Điều trị.
- Khi có sốt và viêm mũi tiến triển nặng thì cho nằm điều trị, nhà ở cần thoáng khí, tránh không khí quá lạnh và khô.

- Điều trị càng sớm càng tốt, dùng thuốc lợi mồ hôi, hạ sốt. Nếu có đau đầu cho dùng thuốc giảm đau.

- Điều trị tại chỗ:
Loại trừ ngạt mũi: có thể dùng thuốc co mạch ở dạng nhỏ mũi hoặc bôi mũi như: Ephedrin 2%, Napthasolin 0,1%
Điều trị khí dung: kháng sinh + kháng Histamin + co mạch.
Trong viêm mũi cấp tính ở trẻ em còn bú, trước khi cho ăn từ 5 - 10 phút cần cho nhỏ mũi thuốc co mạch (Adrenalin 1%0).

2.5. Tiên lượng: Viêm mũi cấp tính ở người lớn tiên lượng tốt, một vài trường hợp có thể sinh biến chứng (viêm xoang, viêm vòi nhĩ, viêm tai giữa...) thì tiên lượng kém hơn, trẻ bú có tiên lượng kém hơn.

2.6. Phòng bệnh.
- Phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp trên, trước hết là phải hướng tới rèn luyện cơ thể, nhất là những người có cơ địa viêm mũi. Các biện pháp tắm nước, tắm nắng, tắm khí và các dạng thể thao nhằm tăng cường hệ tim mạch và bộ máy hô hấp, giúp cơ thể tạo ra những phản ứng bình thường...

- Cũng vì các dị hình trong hốc mũi cản trở hô hấp và tạo điều kiện phát triển bệnh viêm mũi tái diễn, nên phải phục hồi sự lưu thông mũi bình thường để phòng bệnh. Những cản trở thực thể như: quá phát cuốn mũi, vẹo vách ngăn mũi, các khối u trong hốc mũi...

- Cần hướng dẫn bệnh nhân cách xì mũi từng bên khi viêm mũi cấp tính không được xì quá mạnh để tránh đưa những nhiễm trùng xâm nhập vào tai hoặc xương chũm.

3. Viêm mũi mạn tính.
Bao gồm:

- Viêm mũi mạn tính xuất tiết.

- Viêm mũi quá phát.

3.1. Viêm mũi mạn tính xuất tiết.
3.1.1. Triệu chứng
: Viêm mũi mạn tính xuất tiết đặc trưng bởi xung huyết lan toả và phù nề nhiều ở niêm mạc mũi (đôi khi nề tím). Triệu chứng gần giống như trong viêm mũi cấp tính.

Triệu chứng toàn thân: không có gì đặc biệt.

Triệu chứng tại chỗ:
- Ngạt mũi không thường xuyên, ngạt tăng lên theo tư thế bệnh nhân nằm ngửa hay nghiêng. Thông thường trong những trường hợp này có ứ máu ở những phần dưới thấp của mũi. Các mạch máu của tổ chức hang do mất trương lực, ở trạng thái giãn nên ứ máu, gây cản trở thở bằng đường mũi. Khi quay nghiêng sang bên kia, ngạt mũi cũng chuyển sang lỗ mũi nằm ở thấp.

- Chảy mũi hầu như thường xuyên.

- Những biến chứng trong viêm mũi mạn tính có thể ở dạng giảm ngửi hoặc đôi khi mất ngửi, thường tổn thương cơ quan thính giác do dịch viêm chảy từ mũi qua vòi tai vào hòm tai.

3.1.2. Chẩn đoán.
Chẩn đoán xác định thường khó.
Chẩn đoán phân biệt.

- Với viêm mũi quá phát: gây co niêm mạc mũi bằng dung dịch Cocain 1% - 3% có pha Adrenalin 1%0 hoặc dung dịch Ephedrin 2%-3%. Nếu hầu như hết hoàn toàn sự phù nề niêm mạc mũi, sau khi nhỏ thuốc co mạch, chứng tỏ viêm mũi mạn tính thường. Còn nếu không co chứng tỏ viêm mũi quá phát. Thăm dò niêm mạc mũi bằng que thăm đầu tù có thể cho ta hình dung được mức độ phù nề của nó.

- Trong viêm mũi xuất tiết nhất là có xuất tiết nhiều, cần loại trừ bệnh xoang là nguồn gốc có thể gây ra sự xuất tiết này.

3.1.3. Điều trị.
- Để giảm phù nề và chống viêm, dùng các thuốc se hoặc các thuốc đốt cuốn mũi.

- Bôi dung dịch Nitrat bạc 1%, 2%, 3% hoặc dung dịch Clorua kẽm.

- Nếu tái diễn dùng Napthasolin 0,5% hoặc Ephêdrin 1% có kết quả.

- Về lý liệu, có thể khí dung, chiếu tia sóng ngắn vào vùng mũi, điện di dung dịch Novocain 5%. Nếu không có kết quả có thể chỉ định đốt cuốn mũi dưới bằng côte điện.

3.2. Viêm mũi quá phát.
Là dạng viêm đặc trưng bởi sự tăng sinh của tổ chức liên kết. Sự tăng sinh các thành phần tổ chức này không phải diễn ra mạnh trên toàn bộ niêm mạc mũi mà chủ yếu ở các vị trí có tổ chức hang. Đó là đầu và đuôi cuốn mũi giữa và dưới. Đôi khi chúng nở to chiếm toàn bộ vùng phía dưới cuốn dưới, bề mặt phần quá phát có thể phẳng, song thường là gồ ghề, nhất là vùng các đầu cuốn có dạng múi, thuỳ lồi ra. Đuôi cuốn quá phát có thể có dạng khối u lồi vào tỵ hầu. Mầu sắc bề mặt phần quá phát tuỳ thuộc vào lượng tổ chức liên kết phát triển và cấp máu: có thể nâu đỏ hoặc đỏ thẫm hoặc tím xẫm.

3.2.1. Triệu chứng.
Triệu chứng của viêm mũi quá phát cũng có ngạt tắc mũi và chảy mũi. tuy vậy ngạt mũi ở đây là do nguyên nhân bền vững (quá phát niêm mạc) nên nó thường xuyên hơn và ít thấy giảm đi sau khi bôi thuốc co mạch. Thông thường trong viêm mũi quá phát mạn tính, đuôi cuốn dưới có thể chắn trực tiếp vào lỗ hầu của vòi tai hoặc tạo điều kiện cho viêm nhiễm vào vòi tai và hòm tai. Đôi khi còn tổn thương cả hệ thống tuyến lệ do đầu cuốn dưới quá phát bịt mất lỗ dưới của ống lệ tỵ, gây chảy nước mắt, viêm túi lệ và viêm kết mạc.

Viêm mũi mạn tính cũng là nguyên nhân gây nhức đầu, khó thở, nhất là về đêm, các cơn hen và những rối loạn thần kinh khác.

3.2.2. Điều trị.
Đề phòng bệnh trước hết phải loại hết tất cả các nguyên nhân gây viêm mũi mạn tính. Như vậy trước hết phải chú ý tới thể trạng chung của cơ thể (các bệnh tim, thận nhiễm mỡ...), các điều kiện vệ sinh và nghề nghiệp trong lao động của bệnh nhân. Sau khi đã sáng tỏ và loại trừ nguyên nhân này sẽ tiến hành điều trị tại chỗ.

Điều trị thuốc: Bôi thuốc với mục đích làm giảm phù nề niêm mạc mũi thường dùng dung dịch Glyerin iôt 0,5 -1,5%. Đối với dạng viêm mũi quá phát đòi hỏi điều trị kiên quyết hơn. Nếu niêm mạc chưa quá phát mạnh thì dùng hoá chất đốt cháy: axit cromic, axit trcloaxetic, nitrat bạc...

Điều trị bằng đốt điện (côte): Trước khi đốt hãy bôi tê niêm mạc mũi bằng dung dịch Cocain với Adrenalin 3-5% từ 1-2 lần. Khi đốt bằng que điện cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

- Không cần nung que điện đến sáng trắng vì tác dụng cầm máu chỉ cần tới mức nung đỏ.

- Trong khi đốt cần quan sát để không bị đốt đồng thời cả 2 bên đối diện của hốc mũi tránh bị dính về sau do đốt.

- Không được rút đầu côte điện ra khỏi tổ chức bị đốt khi ở trạng thái nguội vì sẽ kéo theo ra một mảng tổ chức gây chảy máu. Đưa côte điện ra ngoài mũi, vẫn ở tình trạng nung đỏ.

- Thường làm 1 - 2 vết đốt từ sau kéo ra trước theo bờ cuốn để sau đó sẹo tạo thành sau khi rụng đi sẽ co nhỏ niêm mạc phù nề lại.

- Với côte điện đôi khi chỉ cần một lần là được, nhưng có khi phải đốt lại lần 2, sau khi bong vẩy lần đầu.

- Cần phòng cho bệnh nhân viêm và ngạt mũi ngay mấy ngày sau khi đốt.

Điều trị phẫu thuật:
- Chỉ định: Khi có biểu hiện quá phát xương hoặc tăng sinh tổ chức liên kết, không còn đáp ứng với thuốc co mạch, phải dùng đến biện pháp phẫu thuật.

- Các chống chỉ định phẫu thuật là: Có biểu hiện sốt và bệnh cấp tính. Giảm đông máu và các bệnh chảy máu kéo dài.

- Kỹ thuật: Khi lấy bỏ những phần quá phát khu trú ở đầu, đuôi cuốn và toàn bộ bờ dưới cuốn dưới, hay ở đầu, bụng cuốn giữa, cũng cần gây tê tại chỗ như nói trên và tốt nhất là lấy bằng thòng lọng. quan sát đưa thòng lọng vào mũi và lựa ngoặc vào sát nền và rồi cắt lấy ra. Nếu sự phát triển chiếm toàn bộ bờ dưới cuốn dưới thì cắt bằng kéo cắt cuốn. Sau phẫu thuật nhét bấc mũi vô trùng có tẩm dầu + kháng sinh. Bấc tẩm dầu có nhiều tác dụng: làm giảm bớt tính kích thích niêm mạc và lấy ra không cần nhỏ oxy già như một số tác giả đề nghị. Rút bấc ra sau 24 - 48 giờ. Sau rút bấc phải theo dõi bệnh nhân từ 30 phút đến 1 giờ. Để tránh chảy máu phải giữ bệnh nhân ở trong nhà, không dùng thức ăn nóng, không uống rượu, tránh lao động chân tay.

- Biến chứng sau phẫu thuật hoặc đốt thường là chảy máu và dính. Dính xảy ra thường do tổn thương ở 2 phía niêm mạc đối diện nhau (cuốn và vách ngăn). Có thể có viêm họng sau phẫu thuật này nhất là ở người bị viêm Amidan mạn tính.

469660 top -
@khuongtvo tạm dừng post những bài về sức khoẻ để ăn Noel, ăn Tết nha. admin sẽ làm việc cùng với khuongtvo nha.

469770 top -


PayPal về email:
[email protected]


Chi phiếu gửi về:
Hoanh Ton
6879 Amherst St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

Image
Image