.
Đọc và nghe Sử diễn ca Việt Nam
1, 2, 3, 4 - bottom


Sử Diễn ca Việt Nam

. : Huyền sử Âu Lạc: 400130
. : Hùng Vương: 400181
. : Phù Đổng Thiên Vương: 400369
. : Sơn Tinh, Thủy Tinh: 400534
. : Một Mẹ trăm con: 400772
. : Lang Liêu: 401043
. : Trận Bạch Đằng: 401090
. : Chử Đồng Tử: 401292
. : Trầu Cau: 401965
. : Sự tích trái dưa hấu: 402555
. : Kho Rồng: 403345
. : Mâm ngũ quả ngày Tết: 403559
. : An Dương Vương: 405159
. : Chuyện Thành Cổ Loa: 405873
. : Trọng Thủy - Mỵ Châu: 406716
. : Thần nỏ Cao Lỗ: 407449
. : Hai Bà Trưng: 407980
. : Nữ tướng Lê Chân: 408993
. : Bà Man Thiện: 410038
. : Thi Sách: 412429
. : Bà Triệu: 417282
. : Triệu Quốc Đạt: 419793
. : Lý Nam Đế: 422370
. : Triệu Quang Phục: 426867
. : Mai Hắc Đế: 429579
. : Phùng Hưng: 430597
. : Ngô Quyền: 433197
. : Bạch Đằng Giang: 434902


Cập nhật

Đang được xây dựng

399980 top -
Chào quý vị và các cháu,

Hàng ngày chúng ta có thể thư giãn với giai điệu lãng mạn du dương của những bản tình ca, sự kết hợp âm thanh lộng lẫy, hào nhoáng của những tuyệt phẩm âm nhạc không lời, những ca từ mộc mạc, chân chất của làn điệu dân ca hoặc lời yêu thương, ấm áp của dòng nhạc thiếu nhi...

Vẫn là thói quen hàng ngày, vào buổi sáng nhâm nhi cà phê và theo dõi thông tin thời sự trên mặt báo quen thuộc. Cảm giác của bạn sẽ như thế nào khi bỗng nghe những âm thanh, ca từ anh tráng về một thời oanh liệt hay giai điệu lung linh huyền sử của dân tộc?

Vâng, thưa quý vị! Lịch sử hào hùng của dân tộc Việt là bản trường ca bất tận. Jimmy hy vọng với topic này chúng ta và các cháu sẽ cùng lắng nghe, tôn vinh niềm kiêu hãnh của dân tộc qua giai điệu, tráng từ của những tác phẩm âm nhạc "Sử ca Việt Nam".

Chúng ta bắt đầu trang này với ca khúc

Huyền sử Âu Lạc
Sáng tác: Mai Thu Sơn
Trình bày: Tốp ca
Thể loại: Sử ca Việt Nam



Lời bài hát:
Huyền sử Âu Lạc
Năm mươi người con cùng cha xuống biển
Năm mươi người con theo mẹ lên núi
Núi cao chập chùng
Sông sâu biển rộng

Ôi mẹ Âu Cơ dòng giống nhà tiên
Cha Lạc Long Quân nòi giống rồng thiêng
Rồng và Tiên duyên trời đất dung hòa nhau
Rồng và Tiên lưu dòng máu cho đời sau
Quên đau thương hy sinh tình riêng
Nên chia đôi trăm người con
Lên núi và xuống biển.

Lập nước Văn Lang dựng lên vua Hùng
Là thuở sơ khai non nước Việt Nam
Tổ quốc thiêng liêng ngàn đời văn hiến rồng tiên
Lập nước Văn Lang dựng lên vua Hùng
Là thuở sơ khai non nước Việt Nam
Tổ quốc thiêng liêng ngàn đời văn hiến rồng tiên.


Truyện đọc minh hoạ - Sưu tầm
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ
Image
Cách đây lâu đời lắm, ở Lĩnh Nam có một thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương Vương, sức khoẻ tuyệt trần, lại có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi hồ Ðộng Ðình, gặp Long Nữ là con gái Long Vương, hai người kết thành vợ chồng và ít lâu sau sinh được một trai, đặt tên là Sùng Lâm. Lớn lên Sùng làm rất khoẻ, một tay có thể nhấc bổng lên cao tảng đá hai người ôm. Cũng như cha, Sùng Lâm có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Khi nối nghiệp cha, chàng lấy hiệu là Lạc Long Quân.

Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi.

Ðến vùng bờ biển Ðông Nam, Lạc Long Quân gặp một con cá rất lớn. Con cá này đã sống từ lâu đời, mình dài hơn năm mươi trượng, đuôi như cánh buồm, miệng có thể nuốt chửng mười người một lúc. Khi nó bơi thì sóng nổi ngất trời, thuyền bè qua lại đề bị nó nhận chìm, người trên thuyền đều bị nó nuốt sống. Dân chài rất sợ con quái vật ấy. Họ gọi nó là Ngư tinh. Chỗ ở của Ngư tinh là một cái hang lớn ăn sâu xuống đáy biển, trên hang có một dãy núi đá cao ngăn miền duyên hải ra làm hai vùng.

Lạc Long Quân quyết tâm giết loài yêu quái, trừ hại cho dân, Lạc Long Quân đóng một chiếc thuyền thật chắc và thật lớn, rèn một khối sắt có nhiều cạnh sắc, nung cho thật đỏ, rồi đem khối sắt xuống thuyền chèo thẳng đến Ngư Tinh, Lạc Long Quân giơ khối sắt lên giả cách như cầm một người ném vào miệng cho nó ăn. Ngư Tinh há miệng đón mồi. Lạc Long Quân lao thẳng khối sắt nóng bỏng vào miệng nó. Ngư Tinh bị cháy họng vùng lên chống cự, quật đuôi vào thuyền của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân liền rút gươm chém Ngư Tinh làm ba khúc. Khúc đầu hoá thành con chó biển. Lạc Long Quân lấy đá ngăn biển chặn đường giết chết con chó biển, vứt đầu lên một hòn núi, nay gọi hòn núi ấy là Cẩu Ðầu Sơn, khúc mình của Ngư Tinh trôi ra xứ Mạn Cẩu, nay còn gọi là Cẩu Ðầu Thủy, còn khúc đuôi của Ngư Tinh thì Lạc Long Quân lột lấy da đem phủ lên hòn đảo giữa biển, đảo ấy nay còn mang tên là Bạch Long Vĩ.

Trừ xong nạn Ngư Tinh, Lạc Long Quân đến Long Biên. Ở đây có con cáo chín đuôi sống đến hơn nghìn năm, đã thành tinh. Nó trú trong một hang sâu, dưới chân một hòn núi đá ở phía Tây Long Biên. Con yêu này thường hóa thành người trà trộn trong nhân dân dụ bắt con gái đem về hang hãm hại. Một vùng từ Long Biên đến núi Tản Viên, đâu đâu cũng bị Hồ Tinh hãm hại. Nhân dân hai miền rất lo sợ, nhiều người phải bỏ cả ruộng đồng, nương rẫy, kéo nhau đi nơi khác làm ăn.

Lạc Long Quân thương dân, một mình một gươm đến sào huyệt Hồ tinh, tìm cách diệt trừ nó. Khi Lạc Long Quân về đến tới cửa hang, con yêu tinh thấy bóng người, liền xông ra, Lạc Long Quân liền hoá phép làm mưa gió, sấm sét vây chặt lấy con yêu. Giao chiến luôn ba ngày ba đêm, con yêu dần dần yếu sức, tìm đường tháo chạy, Lạc Long Quân đuổi theo chém đứt đầu nó. Nó hiện nguyên hình là một con cáo khổng lồ chín đuôi. Lạc Long Quân vào hang cứu những người còn sống sót, rồi sai các loài thủy tộc dâng nước sông Cái, xoáy hang cáo thành một vực sâu, người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau mới gọi là Tây Hồ.

Dẹp yên nạn Hồ Tinh nhân dân quanh vùng lại trở về cày cấy trên cánh đồng ven hồ, và dựng nhà lập xóm trên khu đất cao nhất gọi là làng Hồ, đến nay vẫn còn.

Thấy dân vùng Long Biên đã được yên ổn làm ăn Lạc Long Quân đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu. Ở vùng này có một cây cổ thụ gọi là cây chiên đàn, cao hàng nghìn trượng, trước kia cành lá sum suê tươi tốt che kín cả một khoảng đất rộng, nhưng sau nhiều năm, cây khô héo, biến thành yêu tinh, người ta gọi là Mộc Tinh. Con yêu này hung ác và quỷ quyệt lạ thường. Chỗ ở của nó không nhất định, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu rừng khác. Nó còn luôn luôn thay hình đổi hạng ẩn nấp khắp nơi, dồn bắt người để ăn thịt. Ði đến đâu cũng nghe thấy tiếng khóc than thảm thiết, Lạc Long Quân quyết ra tay cứu dân diệt trừ loài yêu quái. Lạc Long quân phải luồn hết rừng này đến rừng kia và qua nhiều ngày gian khổ mới tìm thấy chỗ ở của con yêu. Lạc Long Quân giao chiến với nó trăm ngày đêm, làm cho cây long đá lở, trời đất mịt mù mà không thắng được nó. Cuối cùng Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống làm nó khiếp sợ và chạy về phía Tây Nam, sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ Xương Cuồng.

Diệt xong được nạn yêu quái, Lạc Long Quân thấy dân vùng này vẫn còn đói khổ thiếu thốn, phải lấy vỏ cây che thân, tết cỏ gianh làm ổ nằm bèn dạy cho dân biết cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn để ở, phòng thú dữ. Lạc Long Quân còn dạy dân ở cho ra cha con, vợ chồng. Dân cảm ơn đức ấy, xây cho Lạc Long Quân một toà cung điện nguy nga trên một ngọn núi cao. Nhưng Lạc Long Quân không ở, thường về quê mẹ dưới thủy phủ và dặn dân chúng rằng: "Hễ có tai biến gì thì gọi ta, ta sẽ về ngay! "

Lúc bấy giờ có Ðế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương Nam. Ðế Lai đem theo cả người con gái yêu rất xinh đẹp của mình là Âu Cơ và nhiều thị nữ. Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tươi đẹp, lại nhiều chim muông, nhiều gỗ quý. Ðế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài. Phải phục dịch rất cực khổ, nhân dân chịu không nổi, hướng về biển Ðông gọi to: "Bố ơi! Sao không về cứu dân chúng con!". Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân đã về.

Nhân dân kể chuyện, Lạc Long Quân hóa làm một chàng trai rất đẹp, có hàng trăm đầy tớ theo hầu, vừa đi vừa hát đến thẳng chỗ Ðế Lai ở. Lạc Long Quân không thấy Ðế Lai đâu cả, mà chỉ thấy một cô gái nhan sắc tuyệt trần cùng vô số thị tỳ và binh lính. Cô gái xinh đẹp đó là Âu Cơ. Thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú nàng đem lòng say mê, xin đi theo Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình, trên núi cao. Ðế Lai về, không thấy con gái đâu, liền sai quân lính đi tìm khắp nơi, hết ngày này qua ngày khác. Lạc Long Quân sai hàng vạn các ác thú ra chặn các nẻo đường, xé xác bọn chúng làm cho chúng khiếp sợ bỏ chạy. Ðế Lai đành thu quân về phương bắc.

Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời.

Hàng chục năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thủy phủ. Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ và đàn con, hóa làm một con rồng vụt bay lên mây, bay về biển cả. Âu Cơ và đàn con muốn theo Lạc Long Quân, nhưng không đi được, buồn bã ở lại trên núi. Hết ngày này qua ngày khác, họ mỏi mắt trông chờ mà vẫn biền biệt tăm hơi. Không thấy Lạc Long Quân trở về, nhớ chồng quá, Âu Cơ đứng trên ngọn núi cao hướng về biển Ðông lên tiếng gọi: "Bố nó ơi! Sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này".

Lạc Long Quân trở về tức khắc. Âu Cơ trách chồng:

- Thiếp vốn sinh trưởng ở núi cao, động lớn, ăn ở với chàng sinh được trăm trai, thế mà chàng nỡ lòng bỏ đi, để mặc con thiếp sống bơ vơ khổ não.

Lạc Long Quân nói:

- Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên.

Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai tỏa đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia ra làm mười năm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương.

Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được mười tám đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng.


400130 top -
Image Tượng thờ Hùng Vương

Hùng Vương
Sáng tác: Thẩm Oánh
Trình bày: Hợp ca
Thể loại: Sử ca Việt Nam



Lời bài hát
Hùng Vương
Bốn nghìn năm văn hiến nước non khang cường là nhờ công đức Hùng Vương. Hoa gấm giang sơn này cùng chung đắp xây bao thời hùng uy vẻ vang. Đời đời nhớ Hùng Vương đã vì quốc dân lập non nước này. Cho cháu con quây quần vẽ nên cơ đồ bền vững tới nay. Việt Nam bao sáng tươi, thề cùng bền gan cương quyết xây Nhà Nam. Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam, xin đoàn kết tâm đồng. Non nước Việt Nam nhờ Hùng Vương quyết thắng muôn năm giòng giống Lạc Hồng.


Bài đọc minh hoạ - Sưu tầm
HÙNG VƯƠNG
Dựa theo ghi chép của LĨNH NAM CHÍCH QUÁI, tất cả các bộ chính sử xưa đều viết rằng, Lạc Long Quân kết hôn với Âu Cơ, sinh hạ được một cái bọc 100 trứng, nở ra 100 người con trai…50 con theo cha xuống biển, 50 con theo mẹ lên rừng… con trưởng của Lạc Long Quân được tôn lên ngôi vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương và các đời trị vì sau đó cũng đều xưng là Hùng Vương. Tổng cộng có 18 đời Hùng Vương.

Khoa học lịch sử hiện đại đã chứng minh được rằng, nhà nước Văn Lang và các Vua Hùng là một sự thật lịch sử, tất nhiên, sự thật đó có phần khác hơn so với ghi chép của sử cũ và những lời truyền tụng vốn có từ ngàn đời nay.

Tất cả các thế hệ con dân nước Việt đều rất tôn kính Hùng Vương. Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương được dựng lên ở núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ, trước hết là bởi lòng đặc biệt tôn kính này. Hàng năm, lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương được cử hành rất trọng thể và thu hút được rất đông đảo nhân dân ở khắp mọi miền của đất nước :

Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba


Những truyền thuyết trong thời đại Hùng Vương - Sưu tầm
Thời đại Hùng Vương có nhiều truyền thuyết được loan truyền mãi trong dân gian thể hiện rõ tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt. Ngoài các truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương - Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, còn có các truyền thuyết về Bọc trăm trứng, về Bánh Dày - Bánh Chưng, về Dưa hấu, về Chứ Đồng Tử, về Cột đá thề...

Thời đại Hùng Vương có hai truyền thuyết được loan truyền mãi trong dân gian thể hiện rõ tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt. Đó là truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương và truyền thuyết về Sơn Tinh - Thuỷ Tinh.

Phù Đổng Thiên Vương
Vào đời Vua Hùng Vương thứ 6 có giặc Ân rất mạnh, đã thôn tính nhiều nước xung quanh. Chúng kéo sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất mạnh, quan quân không sao chống cự nổi. Nhà Vua cho sứ giả đi rao tìm người tài giỏi ra giúp nước.

Lúc bấy giờ ở làng Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có một nhà giàu đã 62 tuổi mới sinh được một con trai, lên ba mà vẫn chưa biết nói. Cậu bé suốt ba năm chỉ nằm ngửa không tự ngồi hay đứng được.

Khi sứ giả đến làng rao cầu hiền, cậu bé thốt nhiên nói được và xin với cha cho mời sứ giả nhà Vua vào hỏi chuyện. Khi sứ giả đến, cậu bé xin sứ giả về tâu Vua đúc cho cậu một con ngựa sắt, một thanh kiếm, một cái nón sắt rồi cậu sẽ ra quân diệt giặc.

Từ khi sứ nhà Vua về làng, cậu bé mỗi ngày một lớn, ăn khoẻ lạ thường. Ngày tháng trôi qua, cậu lớn phổng lên thành người khổng lồ.

Khi giặc Ân kéo đến chân núi Châu Sơn (thuộc Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) thì sứ giả đem ngựa, kiếm và nón sắt dâng cho cậu. Cậu vươn vai đứng dậy rồi nhảy lên ngựa. Ngựa chạy đến đâu, miệng phun ra lửa đến đó. Cậu xông vào đội ngũ giặc, sải kiếm chém giặc như chém chuối. Kiếm gẫy, cậu nhổ cả các cụm tre mà đánh giặc. Không đương nổi sức mạnh thần diệu của chàng trai Phù Đổng, tàn quân giặc quỳ gối xin hàng.

Phá xong giặc Ân, người Anh hùng làng Phù Đổng đi lên đỉnh núi Sóc Sơn, cả người lẫn ngựa bay lên trời. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng và sắc phong là Phù Đổng Thiên Vương.

Sơn Tinh - Thủy Tinh
Vua Hùng Vương thứ 18 kén chồng cho con gái là Mỵ Nương. Sơn Tinh (Thần Núi) và Thủy Tinh (Thần Nước) cùng đến cầu hôn. Hùng vương hứa gả con gái cho người nào ngày mai mang lễ vật đến trước. Sơn Tinh đem lễ vật đến sớm hơn và được đưa Mỵ Nương về núi. Thủy Tinh đến sau nổi giận dâng nước sông lên đánh Sơn Tinh. Nước dâng lên đến đâu Sơn Tinh làm cho núi đồi cao lên đến đó. Cuối cùng Thủy Tinh thua trận phải rút nước. Hằng năm, cuộc chiến thường diễn lại.

Truyền thuyết này phản ánh các trận lụt ở lưu vực sông Hồng và việc đắp đê trị thủy của tổ tiên ta có từ xa xưa.

Ngoài ra còn có các truyền thuyết tiêu biểu sau:

Thời đại Hùng Vương có nhiều truyền thuyết được loan truyền mãi trong dân gian thể hiện rõ tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt. Ngoài các truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương - Thánh Gióng và Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, còn có các truyền thuyết về Bọc trăm trứng, về Bánh Dày - Bánh Chưng, về Dưa hấu, về Chứ Đồng Tử, về Cột đá thề...

Bọc trăm trứng
Vua đầu nước ta - Kinh Dương Vương là cháu bốn đời Viêm Đế Thần Nông - vị thần trông coi nghề nông ở trên trời). Kinh Dương Vương lấy Thần Long nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đi tuần thú gặp Âu Cơ ở động Lăng Xương kết làm vợ chồng, đưa về núi Nghĩa Lĩnh. Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở thành trăm con trai. Khi các con khôn lớn, Lạc Long Quân nói: "Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, không thể ở lâu với nhau được". Bèn chia 50 con cho Âu Cơ đem lên núi, còn Lạc Long Quân dẫn 49 người con xuống biển, để lại người con cả nối ngôi hiệu là Hùng Vương đặt tên nước Văn Lang đóng đô ở thành Phong Châu, truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương.

Bánh Giày - Bánh Chưng
Vua Hùng thứ 6 muốn chọn con hiền cho nối ngôi, mới ban lệnh thi cỗ. Các hoàng tử ra sức tìm kiếm sơn hào hải vị bày biện. Riêng Lang Liêu chỉ dùng gạo nếp thơm chế ra bánh giày, bánh chưng. Vua thấy Lang Liêu hiếu thảo siêng năng, sáng chế ra hai bánh quý bèn truyền ngôi cho làm Hùng Vương thứ 7

Nguồn gốc Dưa hấu
An Tiêm là con nuôi Vua Hùng, nói năng kiêu ngạo, bị đày ra đảo hoang. Vợ chồng An Tiêm chỉ được mang theo một ít lương thực và con dao phát. Chàng thấy đàn quạ đến đảo ăn thứ quả da xanh lòng đỏ, dây bò trên mặt đất. An Tiêm lấy một quả ăn thử thấy ngon ngọt khỏe người, bèn trỉa đất rắc hạt trồng khắp đảo. Đến vụ thu hoạch chàng gọi thuyền buôn vào bán. Vua biết tin liền cho đón về.

Chử Đồng Tử
Công chúa Tiên Dung con Vua Hùng 18 thích du chơi phóng khoáng. Nàng cưỡi thuyền xuôi sông Cái, đến bãi Tự Nhiên sai căng màn tắm. Không ngờ dội lớp cát trôi lộ ta chàng đánh cá ở trần vùi mình trong hố, tên là Chử Đồng Tử. Tiên Dung cho rằng duyên trời xe, bèn lấy chàng làm chồng. Vua cha biết tin giận sai quân đến bắt, thì cả vùng đất cùng Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời.

Cột đá thề
Vua Hùng Vương thú 18 không có con trai, nhường ngôi cho con rể là Nguyễn Tuấn tức là Tản Viên. Thục Phán là cháu Vua Hùng làm lạc tướng bộ lạc Tây Vu đem quân đến tranh ngôi, xảy ra chiến tranh Hùng - Thục. Tản Viên khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Phán cảm kích dựng hai cột đá trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thề rằng sẽ kế tục giữ nước và thờ tự các Vua Hùng. Phán sai thợ đẽo đá dựng miếu trên núi và cho mời dòng tộc nhà vua đến ở chân núi lập ra làng Trung Nghĩa giao cho trông nom đền miếu, cấp cho đất ngụ lộc từ Việt Trì trở ngược đến hết địa giới nước nhà. Lại sai dựng miếu ở động Lăng Xương thờ bà mẹ Tản Viên, cấp đất ngụ lộc cho Tản Viên từ cửa sông Đà trở lên phía Tây Bắc. Sau đó Thục Phán xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa đặt tên nước là Âu Lạc.


400181 top -
Image
Truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương
Sáng tác: Chương Đức


Lời bài hát
TRUYỀN THUYẾT PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
Đời Hùng Vương thứ sáu, bọn giặc Ân đánh chiếm nước Nam ta, gieo tang tóc khổ đau bao xóm thôn xơ xác điêu tàn. Vua Hùng tìm người cứu nước giữ yên núi sông nước Văn Lang, mong con cháu Rồng Tiên chống giặc giữ yên đất trời Nam.

Làng Gióng Vũ Ninh xảy ra chuyện lạ, vợ người nông dân ướm dấu chân to, về nhà sinh ra đứa trẻ kỳ lạ. Vào năm lên ba nghe vua tìm người, trẻ bật đứng lên xin giáp xin roi, xin ngựa bằng sắt lên đường cứu nước.

Lạ thay trẻ thơ biến ra chàng trai, hùng anh oai phong vóc dáng hiên ngang, cầm ngọn roi sắt nhảy lên mình ngựa. Ngựa phi thẳng mau đến lũ giặc Ân, tả xông hữu xung giết hết quân thù. Đến núi Sóc Sơn chàng biến mất đi.

Nhớ công ơn hùng anh không màng phú quý giết giặc ngoại xâm. Vua Hùng Vương lập bàn thờ phong dành cho một đấng anh hùng. Phù Đổng Thiên Vương, Phù Đổng Thiên Vương. Ngàn đời sau mãi mãi rạng danh.


Bài đọc minh hoạ
THÁNH GIÓNG - Sưu tầm
Đời truyền rằng, vào thời Hùng Vương thứ sáu, đất nước lâm nguy bởi giặc Ân tràn tới, quân sĩ triều đình không cách gì chống đỡ nổi. Hùng Vương sai sứ giả đi khắp nước cầu người tài giỏi ra cứu nước cứu dân. Bấy giờ ở làng Phù Đổng, tục danh là làng Gióng, có gia đình sinh hạ được một người con trai khôi ngô tuấn tú nhưng mãi đến ba tuổi vẫn không biết nói. Nghe loa sứ giả loan truyền, cậu bé bỗng đứng bật dậy và thưa với cha mẹ cho mời sứ giả vào. Cha mẹ kinh ngạc nhưng cũng vội làm theo. Thấy sứ giả, cậu bé liền nói :

“Xin sứ giả tâu với Hùng Vương, hãy sắm cho tôi đủ ngựa sắt, áo giáp sắt, nón sắt và roi sắt thì tôi sẽ đánh đuổi hết quân xâm lăng.”

Sứ giả về tâu lại, Hùng Vương cho rằng cậu bé chính là vị thần cứu hộ, bèn cho sắm đủ mọi thứ cậu bé cần. Dân làng Phù Đổng thi nhau nấu cơm cho cậu bé ăn. Cậu ăn rất nhiều và lớn nhanh như thổi. Thế rồi chàng trai Phù Đổng vươn vai, hùng dũng lên ngựa và xông thẳng ra trận. Trai tráng bốn phương cũng nô nức tòng quân. Chàng hiên ngang tả xung hữu đột, đánh cho giặc phải bạt vía kinh hồn. Gậy sắt bị gãy, chàng liền nhổ cả bụi tre ngà mà quất tới tấp. Giặc phải bỏ chạy thục mạng và từ đó không bao giờ dám bén mảng đến nữa.

Thắng trận rồi, chàng trai Phù Đổng liền cưỡi ngựa bay lên trời. Nhân dân đời đời kính trọng và đồng lòng tôn chàng là thần Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng. Đền thờ chàng được lập ở rất nhiều nơi mà lớn nhất là ở ngay trên làng Phù Đông quê hương chàng. Làng Phù Đổng hay làng Gióng nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.


400369 top -
Cám ơn mauxanh đã ủng hộ.

Có thì giờ giúp Jimmy với nha. :)

400515 top -


Sơn Tinh, Thủy Tinh
Sáng tác: Tâm Thơ, Ngô Nguyễn Trần
Trình bày: Ngọc Ánh - Hạnh Nguyên - Nhóm sức sống mới



Bài đọc minh hoạ - Sưu tầm
Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh
Image
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên gọi là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Mỵ Nương được vua cha yêu thương rất mực. Nhà vua muốn kén cho nàng một người chồng thật xứng đáng.

Một hôm có hai chàng trai đến, xin ra mắt nhà vua để cầu hôn. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió, gió đến, hò mưa, mưa tới - Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.

Một người là chúa của miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng cả.

Hùng Vương băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, Hùng Vương phán rằng:

- Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì được rước dâu về.

Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.

Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.

Sơn Tinh không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.

Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.


400534 top -
Image
Một Mẹ trăm con
Sáng tác: Pham Duy
Trình bày: Hợp ca Hướng Đạo



Lời bài hát
MỘT MẸ TRĂM CON
Anh em ta, cùng mẹ cha, nhớ chuyện củ, trong tích xưa, khi thế gian còn mù mờ, khi thế gian con mù mờ.
Xưa khi xưa, mẹ đẻ ra, trăm cái trứng, sinh lũ con, trăm đứa con cùng một giòng, trăm đứa con cùng một giòng.
Năm mươi con, vượt đồi non, phá rừng núi, khai rẫy nương, xây đắp buôn lập nhà sàn, xây đắp buôn lập nhà sàn.
Năm mươi con, vượt trường sơn, đi xứ bắc, đi xứ nam, xây núi sông lập ruộng đồng, xây núi sông lập ruộng đồng.
Hôm nay đây, rừng gặp mây, gió gặp núi, ta đến đây, tay nắm tay mình gặp mình, tay nắm tay mình gặp mình.
Khua chiên lên, đập cồng lên, tiếng cồng đánh, qua mái tranh, qua mái tre vào rừng già, qua mái tre vào rừng già.
Cho con hươu, khi già nua, cho ma quái, cho lũ nai, ngơ ngác say vì nhạc cồng, ngơ ngác say vì nhạc cồng.

Bài đọc minh hoạ
Image
Huyền thoại "Bọc Trăm trứng"
- Tương truyền rằng Âu Cơ lấy Lạc Long Quân được một thời gian thì sinh ra Bọc trăm trứng, trứng nở ra 100 người con, là tổ tiên của dân tộc Việt. Đây chỉ là một câu chuyện truyền thuyết, nhưng đó là có thể nói đây là câu chuyện vĩ đại, mang triết lý sâu sắc mà qua đó cha ông chúng ta đã gửi gắm những hàm ý lớn lao: Lý giải nguồn gốc dân tộc, thể hiện tinh thần tự tôn coi mình có xuất xứ cao quý đáng tự hào (con Rồng cháu Tiên); nêu cao tinh thần đoàn kết, coi những dân tộc khác đều là anh em một nhà, cùng một mẹ sinh ra (đồng bào-cùng bọc)...

Câu chuyện phản ánh khát vọng của dân tộc trong buổi ban đầu, muốn có một hình thức sinh sôi, nảy nở một cách thần kỳ, có đủ nhân lực nhằm đối phó với thiên nhiên, địch họa để bảo tồn nòi giống, xây dựng đất nước. Thực là:

Một mẹ trăm con gánh núi sông
Đảm đang gây dựng giống Tiên Rồng
Văn Lang một cõi vươn tay đắp
Ngũ Lĩnh bao vùng để mắt trông
Văn hiến Hùng Vương, trau chuốt ngọc
Thuần phong Lạc Việt, điểm tô hồng
Năm châu phụ nữ trong truyền thuyết
Quốc mẫu Âu Cơ đẹp nét hùng.

Huyền thoại này được ghi trong một số thần phả, thần tích về đời Hùng Vương nhưng được biết đến nhiều nhất qua truyện Hồng Bàng thị (truyện họ Hồng Bàng), một trong các tích được chép tại sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ XV). Phần nội dung về Bọc trăm trứng được viết như sau:

“Long Quân lấy Âu Cơ rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh đồng; qua sáu bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, trông đẹp đẽ kỳ dị, người nào cũng trí dũng song toàn, người người đều kính trọng cho là triệu phi thường. Long Quân ở lâu dưới Thủy Quốc vợ con thường muốn về đất Bắc.

Về tới biên giới, Hoàng Đế nghe nói rất sợ hãi cho binh ra giữ cửa ải, mẹ con Âu Cơ không thể về được bèn quay về nước Nam mà gọi Long Quân rằng:

- Bố ở nơi nào mà để mẹ con thiếp cô độc, ngày đêm buồn khổ thế này!

Long Quân bỗng trở về, gặp nhau ở đất Tương. Âu Cơ nói:

- Thiếp vốn là người nước Bắc, ở với vua, sinh hạ được trăm con trai, vua bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi con, làm người vô phu vô phụ, chỉ biết thương mình.
Long Quân nói:

- Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia lá. Ta đem năm mươi con về Thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên.

Trăm con vâng theo, sau đó từ biệt mà đi. Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang…”.

Trong Hùng triều ngọc phả (tức Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh vương triều Hùng) mà ngày nay chúng ta thường gọi là Ngọc phả đền Hùng thì có ghi chép cụ thể, sinh động hơn về huyền thoại này:

“Bấy giờ nàng Âu Cơ mang thai, trải ba năm, ba tháng, mười ngày, thấy trên núi Nghĩa Lĩnh có mây lành ngũ sắc xán lạn. Đến giờ Ngọ, ngày 25 tháng 12 năm Giáp Tý, Âu Cơ thấy bào thai chuyển động. Đến giờ Ngọ, ngày 28, hương lạ đầy nhà, hào quang khắp phòng, bà sinh một bọc bạch ngọc, hương lạ giáng xuống. Bắt đầu sinh ở núi Ngũ Lĩnh, đất Thổ Thứu phong, ao sen đỉnh ngọc.

Hiền Vương thấy bà sinh ra bọc lạ, cho là xưa nay chưa có, việc lạ trong nước, bèn triệu văn võ bách quan trong triều vào chầu chính điện. Lúc ấy, giờ Ngọ, bỗng thấy trong thành giữa trời có ba tiếng hiệu lệnh làm chuyển động trời đất, sông núi, cỏ cây, vạn vật kinh sợ. Mây lành ngũ sắc sáng đầy khắp ba nghìn thế giới. Trên thượng điện, vạn chim bay; ngư, lân tụ hội theo gió mưa cống triều.

Vua thấy quốc gia có điềm lạ khác thường, xuống chiếu cho các quan văn võ chỉnh đốn ý mạo, chay khiết lòng thành, tề tựu tại điện Kính Thiên, thắp hương đèn phùng chầu triều bái Hoàng thiên Thượng đế đến Tứ phủ vạn linh.

Tới giờ Thân hôm ấy, bỗng thấy một áng mây xanh từ hướng Tây kéo đến, tụ tại thềm rồng của điện Kính Thiên, tự nhiên có bốn vị tướng xuất hiện kỳ lạ, cao hơn trượng rưỡi, đầu đội mũ hoa, thân mặc bào xanh gấm vóc, eo thắt đai ngọc, chân đi hài sắt, miệng cười như hào quang sáng rực, mây tuôn cuồn cuộn, tay cầm một chiếc long bài (sắc) của Ngọc Hoàng thượng đế: Ban cho Hiền Vương của Nam Miên một bọc trăm trứng, sinh nơi ngọc khuyết, thành trăm người con trai trị nước. Nay sai bốn vị Đại Thiên vương giúp đỡ, che chở cho nước. Vậy ban sắc!

Hiền Vương chiếu theo long bài, truyền các quan văn võ ngẩng mặt bái tạ trời, bái tạ Thiên vương. Thiên vương nói:

- Trăm trứng ngọc bào do điềm rồng giáng sinh, thiên sứ báo cho Hiền Vương biết, hãy đặt vào bàn vàng, mang đến chùa Cổ Viễn Sơn, tên là Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh (về sau đổi là Thiên Quang Thiền tự) đặt ở trong chùa, chọn lấy vị quan trai giới chầu trực, thắp hương không dứt.

Bọc đó vỡ ra, Hiền Vương bèn đỡ lấy thì bốn vị Đại Thiên Vương tự nhiên biến hóa, Hiền Vương càng thành tâm cầu đảo. Đến giờ Ngọ, ngày rằm 15 tháng Giêng, trăm trứng vỡ ra đều thành trăm người con trai; rồng thành năm sắc, điềm ứng sáng ngời, hương trời giáng xuống, đầy khắp núi sông. Được khoảng một tháng, không phải bú mớm mà tự trưởng thành. Tất cả các con đều có hình dáng đẹp lạ, tướng mạo phương phi, anh hùng nổi tiếng ở đời, cao lớn ba thước bảy tấc.

Hiền Vương triệu 6 nàng cung phi, giao phát gấm lĩnh, cắt may thành trăm bộ áo mũ cấp cho trăm người con trai. Cả ngày trăm con vui cười, thường lấy lá hoa ao sen đùa nghịch. Sau 100 ngày, các con khôn lớn, không nói mà hay cười. Qua 200 ngày, đến giờ Thìn ngày 20 tháng 7, cả trăm người con trai đều cười to, nói rằng:

- Trời sinh Thánh vương trị nước, giúp bốn biển thanh bình, quốc gia yên vui, là trăm hoàng tử đều ở thềm rồng điện thượng.

Bỗng thấy một đóa mây ngũ sắc từ không trung giáng xuống thềm rồng. Hiền Vương thấy tám vị Thiên tướng, đầu đội mũ đồng, mình mặc thiết giáp, chân đi hài bạc, eo thắt dải rồng, dung mạo sán lạn, mắt sáng như sao, miệng xuất hào quang, tay cầm thần kiếm, linh trượng, bảo trữ, thiết phủ, đứng hầu hai bên tả hữu; hai bên đối chầu, hư không biến hóa, gió mưa ập đến, bay vượt nhiễu không trung trong điện Ngũ Lĩnh, rồi núi non thất hình, sông hồ sóng dâng trào, không thể lượng cơ biến hóa.

Sau ba giờ sáng láng, tám vị tướng mới xưng danh làm tám bộ Kim Cương, vâng sắc của Thượng thiên chư Phật, Bảo Đế lệnh sai giáng xuống che chở cho trăm người con trai. Nay tất cả đã trưởng thành, hiểu biết nên tám vị tướng phụng mệnh đưa các vương tử đến cửa khuyết bái tạ Hoàng phụ, cai trị trong nước.

Tám vị tâu xong, bay lên trời biến mất. Tám vị ban cho Hiền Vương một chiếc long bài, một chiếc thiên bảo thần ấn, một viên bạch ngọc, một chiếc thần kiếm, một quyển thiên thư, một chiếc thước ngọc, một chiếc bàn vàng đặt ở trong điện. Hiền Vương nhận lấy, cho đây là trời ứng điềm lành, giúp yên trong nước.

Vua thấy trăm người con trai bỗng nhiên cao lớn, thân dài bảy thước ba tấc, mỗi người cầm một vật thiên bảo thần khí chia nhau đứng hầu hai bên tả hữu, bái tạ Hoàng phụ. Hiền Vương xuống chiếu rằng:Trời sinh trăm người con trai, đều văn võ thánh thần, anh hùng tài lược giúp nước yên bình, thiên hạ cậy nhờ bởi ơn giáo hóa, phụ tử quân thần cùng nhau vui hưởng”.

Trên đây là nội dung cơ bản về huyền thoại Bọc trăm trứng, mặc dù mang những tình tiết phi lý nhưng huyền thoại này lại có sức sống mãnh liệt, là nguồn động viên to lớn đối với dân tộc Việt Nam trong bước đường phát triển đầy cam go, thử thách nhưng cũng rất anh dũng, hào hùng suốt mấy ngàn năm lịch sử của mình.

Do đó không chỉ ngày nay người ta mới có những băn khoăn về huyền thoại này, mà các nhà sử học thời phong kiến cũng thấy những điểm bất hợp lý và cho rằng đó là thuyết “hoang đường, quái dị”; nhưng cao hơn hết vẫn là ý nghĩa sâu sắc của câu chuyện, là lòng tự hào về cội nguồn dân tộc.

Nhà sử học Ngô Sĩ Liên viết: “Thánh hiền sinh ra, tất có cái khác thường... Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà sinh ra trăm con trai. Chẳng phải cơ nghiệp nước Việt ta là gây dựng nên vì thế sao? ” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Ngô Thì Sĩ trong sách Việt sử tiêu án thì viết: “Có người hỏi đẻ ra một bọc trăm trứng, việc ấy có chăng? Xin trả lời rằng: con rồng sinh ra tự nhiên có cái khác phàm tục thì việc đẻ ra trứng có gì là lạ, nhưng cũng là một thuyết không theo lẽ thường”.

Các sử thần triều Nguyễn trong cuốn Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì cho rằng đó chỉ là một lời chúc cho dân tộc mau phát triển và sống trong tình nghĩa đồng bào ruột thịt: “Kinh Thi có câu: Tắc bách tư nam (hàng trăm con trai). Đó là chúc tụng cho nhiều con trai đấy thôi, xét đến sự thực cũng chưa đến số ấy, huống chi lại nói là đẻ ra trăm trứng!”.

Thế nên: “Bạn đang băn khoăn về sự huyền bí đến độ phi lý quanh chuyện mẹ Âu Cơ sinh hạ bọc trăm trứng chăng? Xin bạn chớ bận tâm, bởi vì có cổ tích nào lại không bồng bềnh trong những chi tiết hư ảo đại loại như thế ?... Sâu sắc và khiêm nhượng thay, lời ký tải cái tâm của tổ tiên về cội nguồn dân tộc: đi từ trứng nước đi lên và dẫu định cư bất cứ nơi đâu thì tất cả con Rồng cháu Tiên đều cùng từ một bọc trứng ban đầu do mẹ Âu Cơ sinh hạ. Người bốn phương muôn thuở vẫn thân ái gọi nhau là đồng bào, tình ruột thịt ngàn năm còn mãi” (Nguyễn Khắc Thuần - Việt sử giai thoại).

Còn vì sao không sinh ra người ngay mà lại sinh ra bọc trăm trứng ? Đó là vì trong cái phi lý cũng có cái logic của nó: người Việt được hợp nhất từ hai tộc Âu Việt (sống ở vùng núi) và Lạc Việt (sống ở đồng bằng), hai tộc người này có tín ngưỡng của mình, đó là tín ngưỡng thờ vật tổ (tôtem giáo – coi một con vật nào đó là tổ tiên của mình, đây là tín ngưỡng thời sơ khởi) đó là con chim và con Rồng.

Chim ở trên núi tượng trưng cho Mẹ Âu Cơ, rồng ở miền xuôi (được hình tượng hóa chủ yếu từ con cá sấu và con rắn ở vùng đầm nước, sông biển) tượng trưng cho Cha Lạc Long Quân. Khi hợp nhất về chủng tộc đã dẫn tới hợp nhất về vật tổ, tạo nên bộ đôi Rồng – Chim (Tiên), đây là điểm khác biệt lớn với các dân tộc khác trên thế giới khi họ chỉ có một vật tổ, riêng người Việt lại là hai.

Duyên kỳ ngộ của cha Rồng mẹ Tiên đã sinh ra bọc trăm trứng, như ta thấy hình tượng tiêu biểu là Chim, Rồng (rắn và cá sấu) đây là những loài đẻ trứng chính vì vậy đó là lời lý giải tại sao câu chuyện truyền thuyết xây dựng mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trứng trước rồi từ đó mới nở ra những người con.

Từ câu chuyện huyền thoại đó, trong tâm khảm mỗi người Việt Nam luôn nhắc nhở nhau phải biết nhớ ơn tổ tiên, những người đã khai mở ra giống nòi dân tộc, đất nước; phải biết đoàn kết, yêu thương, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, bởi tất cả chúng ta đều là con cháu từ một gốc, sinh ra từ một bọc:

Đã sinh cùng giống, cùng nòi
Cùng trong đất nước là người đồng thân
Phải xem ruột thịt cho gần
Phải thương, phải xót quây quần lấy nhau
Phúc cùng hưởng, họa cùng đau
Một gan, một ruột ghi sâu chữ đồng
May ra trời có chiều lòng
Đời đời để giống Lạc Hồng này cho
Gió thu hiu hắt song hồ
Sử xanh còn đó, địa đồ còn đây
Mấy câu mượn bút giãi bày
Xin người trong nước non này cùng nghe.

(Ngô Quý Siêu)


400772 top -
Image
LÒNG HIẾU THẢO (Chuyện chàng Lang Liêu)
Sáng tác: Nguyễn Tiến Hưng
Ca sĩ: Thanh Kim



Lời bài hát
Lòng hiếu thảo
Cách nay lâu rồi ở nơi nước Văn Lang có chàng hoàng tử, dân quen gọi là Tiết Lang Liêu, lúc còn thơ đã sớm quen nắng sương đồng. So với anh em, Lang Liêu được dân yêu quí hơn.

Nước theo năm đời, lệ vua nối ngôi truyền nhau. Đức Hùng Vương 6, nay xem tuổi chừng đã cao nên muốn nhường ngôi báu, mới nhân bữa xuân ban lời : Ngôi sẽ trao về ai dâng ta vật ngon cúng tổ tiên.

Tiếng vua ban rồi, lòng ai cũng mong được ngôi. Vốn là hoàng tử, hăm hai người tìm kiếm nơi nơi, nghĩ lại coi mới thấy thương nỗi Liêu trong đời: Tay trắng thêm mồ côi, không mẹ rồi hỏi ai giúp cho?

Suốt 5 canh nằm, càng lo lắng không xong, lúc gà áy sáng Lang Liêu buồn nước mắt rưng rưng, nhớ mẹ ơn bú mớm, sinh dưỡng bao nhọc nhằn, như chén cơm ngon ăn no lòng đời sao đáp công?

Thấy Lang Liêu buồn, trời cao cũng đem lòng yêu thương, khiến thần tiên xuống mách bảo rằng: Dùng nếp cho thơm, gói thành 2 thứ bánh, cái vuông cái tròn. Trong để nhân thật ngon, gói bên ngoài thì bao lá dong.

Đến hôm lâm triều, Hùng Vương chấm cho chàng Liêu: Tấm lòng thảo hiếu nên vuông tròn là đất trời, còn nếp, thịt trong lá gói như nói ơn sinh thành. Đậy kính chưng vuông, bánh dầy tròn Lang Liêu nối ngôi

Trông bánh chưng chàng Liêu, dân theo làm, xuân dâng tổ tiên.

Image Bánh Chưng

Image Bánh Dầy

Truyện đọc minh hoạ
BÁNH CHƯNG BÁNH DẦY - Sưu tầm

Tục truyền rằng vào đời Hùng Vương thứ 6, để có thể chọn được người con gồm đủ tài đức lên nối ngôi, nhân sắp đến ngày Tết, vua Hùng liền nói với tất cả các con trai của mình rằng, vào đầu năm mới, nếu ai tiến dâng thứ lễ vật gì quý giá nhất thì sẽ được nối ngôi. Khi ấy Hùng Vương đã sinh hạ được gần hai chục người con trai, ai cũng có mẹ chăm lo chu đáo, duy chỉ có Lang Liêu chẳng may mẹ qua đời sớm nên phải tự lập từ nhỏ.

Các con của Hùng Vương thi nhau mua sắm đủ thứ quý giá nhất để dâng cha. Lang Liêu buồn vì mình chẳng thể nào sắm được những lễ vật như thế. Nhưng, lòng kính trọng và hàm ơn Vua cha thì chẳng chút kém ai, bởi thế, Lang Liêu ngày đêm suy nghĩ, tìm cách sắm cho được mâm lễ vật thể hiện lòng thành của mình. Trong một đêm mệt mỏi vì bận tâm suy nghĩ, Lang Liêu bỗng thấy Tiên Nữ xuất hiện. Tiên Nữ nói : “Con hãy dùng những thực phẩm quen thuộc và gắn bó thiết thân nhất với cuộc sống hàng ngày rồi chế thành hai thứ bánh tượng trưng cho công lao to lớn của cha mẹ mà tiến dâng”. Nghe lời Tiên Nữ, Lang Liêu liền dùng gạo nếp, đậu xanh và thịt heo cùng với vài thứ gia vị khác rồi làm ra hai loại bánh mà chàng gọi là bánh chưng và bánh dày. Khi chàng tiến dâng lên, Hùng Vương nếm thử và thấy bánh của Lang Liêu thật ngon. Lang Liêu giải thích:

“Thưa cha, bánh dày hình tròn tượng trưng cho trời, bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất. Công ơn cha mẹ cũng lớn lao như trời đất vậy.”

Nghe xong, Hùng Vương rất lấy làm cảm động, bèn quyết định truyền ngôi cho người con giàu lòng hiếu thảo là Lang Liêu. Từ đó trở đi, năm nào cứ hễ Tết đến là Lang Liêu lại làm bánh dày và bánh chưng để làm lễ vật dâng cúng trời đất và ông bà cha mẹ. Người Việt chúng ta ai ai cũng bắt chước mà làm theo. Tục làm bánh dày và bánh chưng tồn tại mãi cho đến ngày nay.


401043 top -


Vũ đóng góp với anh Jimmy nha



Trận Bạch Đằng

Trận Bạch Đằng năm 1288 xảy ra trên sông Bạch Đằng thuộc đất Đại Việt, đây là một trận đánh lớn quan trọng thuộc một trong các cuộc Kháng chiến chống Nguyên Mông trong lịch sử Việt Nam


Kế hoạch rút quân của quân Nguyên

Trước tình hình bất lợi, quân Nguyên định tổ chức rút về Trung Quốc theo nhiều hướng khác nhau. Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Tí (1288), Hữu thừa Trình Bằng Phi, Thiên tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kị binh đi đón các cánh quân di chuyển bằng đường thủy (đoàn thuyền của Trương Văn Hổ). Tuy nhiên khi qua chợ Đông-Hồ thì bị dòng sông chắn ngang, phải quay lại, nhưng cầu cống đã bị quân nhà Trần bám theo sau phá hủy. Quân Nguyên rơi vào thế nguy, trước mặt thì bị quân Trần chận đường, sau lưng là chướng ngại thiên nhiên. Tuy nhiên quân Nguyên do tra hỏi những tù binh nên đã tìm được đường thoát, nửa đêm hôm đó cánh quân này đột phá vòng vây chạy trốn theo con đường khác, phối hợp với một cánh quân Nguyên đang rút lui để cùng nhau ra khỏi ải Nội Bàng. Tuy bị bất ngờ bởi sự thay đổi lộ trình của quân Nguyên, quân đội nhà Trần đuổi theo đánh rất sát vào cánh quân đoạn hậu. Tướng Nguyên là Vạn hộ Đáp Thứ Xích và Lưu Thế Anh phải dẫn quân quay trở lại phía sau đối phó với quân Trần, sau một trận giao chiến bắt được và giết các tướng Trần chỉ huy toán quân tập kích là các tướng Phạm Trù và Nguyễn Kị.

Ngày 7 tháng 3 năm 1288, cánh quân Mông Cổ rút bằng đường thủy đi tới Trúc Động, tại đây họ bị quân nhà Trần chặn đánh, nhưng tướng Nguyên là Lư Khuê chỉ huy quân này đánh lui quân nhà Trần và chiếm được 20 thuyền chiến.

Ngày 8 tháng 3 năm 1288, Ô Mã Nhi không cho quân rút về bằng đường biển mà đi theo sông Bạch Đằng, vì tính rằng đường biển đã bị thủy quân nhà Trần vây chặt thì phòng bị đường sông có thể sơ hở, hơn nữa sông Bạch Đằng nối liền với nội địa Trung Quốc bằng thủy lộ, thuận lợi cho việc rút quân.


Bố trí quân Trần

Năm 1288, sau khi di tản khỏi kinh đô Thăng Long, Trần Hưng Đạo đã quyết định đánh một trận lớn chống quân Mông Cổ xâm lược đi vào Đại Việt thông qua sông Bạch Đằng. Sông Bạch Đằng trước đó cũng là một địa danh lịch sử khi Ngô Quyền đã từng đánh thắng quân Nam Hán trong năm 938, kết thúc gần 1000 năm Bắc thuộc. Trần Hưng Đạo đã nghiên cứu kỹ lưỡng quy luật thủy triều của con sông này để vạch ra thế trận cọc để mai phục quân Mông Nguyên

Trần Hưng Ðạo chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị một trận địa mai phục lớn trên sông Bạch Ðằng, là nơi đoàn thuyền của quân Nguyên sẽ phải đi qua trên đường rút chạy. Các loại gỗ lim, gỗ táu đã được đốn ngã trên rừng kéo về bờ sông và được đẽo nhọn cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra biển như sông Rút, sông Chanh, sông Kênh làm thành những bãi chông ngầm lớn, kín đáo dưới mặt nước. Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm nằm bắt ngang qua sông Bạch Ðằng nhưng phía dưới sông Chanh, đầu sông Kênh, có thể sử dụng làm nơi mai phục quân lính phối hợp với bãi chông ngầm nhằm ngăn chận thuyền địch khi nước rút xuống thấp. Thủy quân Đại Việt bí mật mai phục phía sau Ghềnh Cốc, Ðồng Cốc, Phong Cốc, sông Khoái, sông Thái, sông Gia Ðước, Ðiền Công, còn bộ binh bố trí ở Yên Hưng, dọc theo bờ bên trái sông Bạch Ðằng, Tràng Kênh ở bờ bên phải sông Bạch Ðằng, núi Ðá Vôi ..., ngoại trừ sông Ðá Bạc là để trống cho quân Nguyên kéo vào. Ðại quân của hai vua đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) trong tư thế sẵn sàng lâm trận cho chiến trường quyết liệt sắp xảy ra.


Diễn biến trận đánh

Khi Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua chạy vào sâu bên trong. Ô Mã Nhi trúng kế khích tướng nên thúc quân ra nghinh chiến, các tướng Phàn Tham Chính, Hoạch Phong cũng ra tiếp ứng. Khi thuyền quân Nguyên đã vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, tướng Nguyễn Khoái dẫn các quân Thánh Dực ra khiêu chiến và nhử quân Nguyên tiến sâu vào khúc sông đã đóng cọc, trong khi quân Trần đợi cho thủy triều xuống mới quay thuyền lại và đánh thẳng vào đội hình địch.

Thủy quân Đại Việt từ Hải Đông - Vân Trà từ các phía Điền Công, Gia Đước, sông Thái, sông Giá nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng, với hàng trăm chiến thuyền cùng quân lính các lộ dàn ra trên sông và dựa vào Ghềnh Cốc thành một dải thuyền chặn đầu thuyền địch ngang trên sông. Trong lúc thủy chiến đang diễn ra dữ dội thì đoàn chiến thuyền của hai vua Trần đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh Môn, Hải Dương) bên bờ sông Giáp (sông Kinh Thần, vùng Kinh Môn, Hải Dương) làm nhiệm vụ đánh cầm chừng và cản bước tiến của địch, cũng tấn công từ phía sau khiến quân Nguyên càng lúng túng và tổn thất rất nặng. Bị tấn công tới tấp trên sông, một số cánh quân Nguyên bỏ thuyền chạy lên bờ sông bên trái của Yên Hưng để tìm đường trốn thoát, nhưng vừa lên tới bờ họ lại rơi vào ổ phục kích của quân Trần, bị chặn đánh kịch liệt. Trời về chiều khi giao tranh sắp kết thúc, Ô Mã Nhi cùng với binh lính dưới quyền chống cự tuyệt vọng trước sự tấn công của quân Trần, vì quân Nguyên của Thoát Hoan không tới cứu viện, nên đạo quân này hoàn toàn bị quân Trần tiêu diệt. Theo Nguyên sử, truyện của Phàn Tiếp chép rằng kịch chiến xảy ra từ giờ mão đến giờ dậu, tức là từ sáng kéo dài đến chiều tối mới kết thúc. Nguyên Sử có chép về tướng Nguyên Phàn Tiếp: "Tiếp cùng Ô Mã Nhi đem quân thủy trở về, bị giặc đón chặn. Triều sông Bạch Đằng xuống, thuyền Tiếp mắc cạn. Thuyền giặc dồn về nhiều, tên bắn như mưa. Tiếp hết sức đánh từ giờ mão đến giờ dậu. Tiếp bị súng bắn, rớt xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng thuốc độc giết". Sông Bạch Đằng nước ròng, tức nước lớn rất nhanh mà nước rút cũng mạnh, nên khi nước rút thuyền của quân Nguyên bị cọc gỗ đâm trúng, lật đỗ, quân Nguyên chết đuối hoặc bị giết vô số.

Kết cục

Quân nhà Trần đại thắng, bắt được hơn 400 chiến thuyền, tướng Đỗ Hành bắt được tướng nguyên là Tích Lệ Cơ và Ô Mã Nhi dâng lên Thượng hoàng Trần Thánh Tông, tướng Nguyên là Phàn Tiếp bị bắt sống, rồi bị bệnh chết. Cánh thủy quân của quân Nguyên hoàn toàn bị tiêu diệt.


Giả thuyết khác về bãi cọc

Có ý kiến cho rằng, ngay từ khi nhận chức Tiết chế ở Bình Than, Trần Quốc Tuấn đã theo kế của Ngô Quyền, muốn ngăn quân địch tiến vào bằng cọc nhọn ở Bạch Đằng. Số cọc nhọn làm năm 1288 chỉ là số bổ sung thêm.

Ngay từ năm 1284, Trần Quốc Tuấn đã giăng bẫy ở đây và muốn dồn địch vào trận địa cọc, nhưng quân Trần yếu thế không thực hiện được ý định. Kết quả quân Nguyên vượt qua an toàn.

Năm 1287, khi Ô Mã Nhi tiến vào cũng mang quân đông và mạnh khiến quân Trần không thể dồn quân Nguyên tới bãi cọc vào thời điểm triều rút, do đó việc bố trí cọc cũng vô hiệu.

Theo ý kiến của Trần Xuân Sinh, các tướng Nguyên không thể không biết về bài học trận Bạch Đằng, 938 của Nam Hán; nhưng do hai lần đã đi qua dễ dàng, quân Nguyên chủ quan không đề phòng cạm bẫy ở sông Bạch Đằng năm 1288. Chính vì vậy khi rút lui đã bị sa vào trận địa và bị diệt hoàn toàn.


Nguồn: Internet

401090 top -
Cám ơn anh quangvu nghen. Tiếp luôn nha anh.

401136 top -


Hi anh Jimmy, anh Vũ

Mấy bài hát này hay quá, vậy mà giờ sumrose mới biết. Giá như sumrose biết lúc còn ở VN thì cô trò sumrose đã có những buổi học thú vị rồi.

Cám ơn anh Jimmy và anh Vũ đã sưu tầm và tổng hợp lại ở đây.

401181 top -
Rất vui khi được sumrose ghé thăm.
sumrose ghé thường nha. Mỗi tuần chúng ta sẽ đăng 1 hoặc 2 bài lên đây.

Thân.

401183 top -
Image
Tiên Dung - Chử Đồng Tử
Sáng tác: Tâm Thơ, Ngô Nguyễn Trần
Ca sĩ: Khánh Duy - Hạnh Nguyên



Bài đọc minh hoạ - Sưu tầm
Tứ bất tử
Tứ bất tử là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn thần (Sơn Tinh), Phù Đổng Thiên vương (Thánh Gióng), Chử Đồng Tử (Chử Đạo tổ), và Liễu Hạnh Công chúa (Đệ nhất Thánh mẫu Liễu Hạnh). Có thể nói, Đức Thánh Chử Đồng Tử tượng trưng cho ước vọng của nhân dân về tình yêu, hôn nhân đôi lứa, sự sung túc giàu có và đạo trung - hiếu. Nhân ngày Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân hóa về trời (17-11 Âm lịch), xin thuật lại những ghi chép trong chuyến đi thực tế tới Đền Hóa Dạ Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên.

Truyền thuyết Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân
Tương truyền, tại làng Chử Xá, Văn Giang, Hưng Yên, có gia đình ngư dân nghèo là ông Chử Vi Vân và bà Bùi Thị Da, vợ chồng lập gia thất đã lâu mà không có con. Một đêm bà Bùi Thị Da nằm mộng, thấy tiên ông từ Thiên đình giáng thế cho bà một tiên đồng, bà giơ tay đón nhận rồi giật mình tỉnh giấc. Từ đó, bà thụ thai, đến ngày mãn nguyệt khai hoa (nhằm ngày 12 tháng tám) bà hạ sinh một người con trai khôi ngô tuấn tú khác thường, đặt tên là Chử Đồng Tử.

Có vần thơ ghi lại:

“Đời Hùng Vương
Ngày mười hai tháng tám
Đức thần tiên hạ giáng cõi trần
Vào nhà họ Chử Vi Vân
Mấy đời tích đức âm cung hải hà
Huyện Văn Giang quê nhà Chử Xá
Vẻ uy nghi phẩm giá kỳ thanh”.

Thuở hàn vi, Chử Đồng Tử gặp nhiều gian truân, năm mười ba tuổi mẹ mất, ít lâu sau nhà cửa hỏa hoạn, gia tài cha con chỉ còn chiếc khố rách, thay nhau mặc mỗi khi ra khỏi nhà. Họa vô đơn chí, một thời gian sau, người cha ốm nặng qua đời. Lúc hấp hối, người cha dặn con giữ lại chiếc khố mà mặc kẻo thiên hạ chê cười, cha đã có ba thước đất che chở. Sẵn lòng hiếu thảo, Chử Đồng Tử đã liệm cha bằng chiếc khố duy nhất, khâm liệm xong tha hương cầu thực, ngày ngâm nước kiếm cá, đổi lấy thức ăn của thuyền bè qua lại, dần dà xuống huyện Chu Diên (tức Khoái Châu) ngày nay.

Một hôm, đang kiếm cá dưới sông, chợt thấy cờ xí rợp trời, trống chiêng inh ỏi, Chử Đồng Tử sợ hãi, chạy lên bãi Tự Nhiên, vùi mình vào cát ẩn nấp. Khi đó, đoàn thuyền của Công chúa Tiên Dung, con gái Hùng Duệ Vương (Vua Hùng thứ 18) du ngoạn sông Nhị (sông Hồng ngày nay), thấy bãi sông đẹp, bèn cho hạ thuyền, lên bãi cát ngắm cảnh rồi quây màn trên bãi để tắm. Khi dội nước, cát trôi đi, lộ nguyên hình Chử Đồng Tử, Tiên Dung không hề sợ hãi, giữ Chử Đồng Tử lại, hỏi rõ nguyên cớ. Nàng nói “Ta nguyện không lấy chồng, giờ đây hai ta không hẹn mà gặp, lại trong hoàn cảnh hai người đều không quần áo, ắt là ý trời xe duyên đó thôi,” bèn sai quân hầu cấp quần áo và làm lễ thành hôn, yến tiệc linh đình. Khi Hùng Duệ Vương nghe tin tức giận cho rằng con gái không giữ phẩm giá kết duyên với kẻ tầm thường, bèn từ con không cho Công chúa hồi Cung.

Từ bỏ cuộc sống nhung lụa, hai vợ chồng Chử Đồng Tử - Tiên Dung làm nông dệt vải, dựng chợ làm nghề buôn bán. Chử Đồng Tử theo thuyền ra khơi đi buôn bán trên biển, tình cờ gặp được tiên ông là Ngường Quang trên đảo Quỳnh Lăng. Thấy diện mạo của Chử Đồng Tử khác thường, bèn giữ lại truyền dạy các bài thuốc chữa bệnh cứu người và phép thuật biến hóa để cứu nhân độ thế. Ba tháng trên động bằng ba năm trần gian, trước khi trở về, tiên ông ban cho chiếc gậy và chiếc nón dặn rằng “Phép thần thông cả ở trong này, khi có việc cần kíp cứ cắm trượng xuống đất, úp nón lên trượng, đọc câu thần chú, mọi việc sẽ như ý muốn”.

Về nhà, Chử Đồng Tử thuật lại mọi chuyện cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Khi đó, xã Ông Đình và An Vĩ có bệnh dịch, Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã cứu chữa dân chúng, từ thập tử nhất sinh bình phục trở lại.

Trong một lần đi chữa bệnh, Chử Đồng Tử và Tiên Dung bất ngờ gặp Tây Sa, thấy người nhan sắc tuyệt trần, Tiên Dung khẽ hỏi “Nàng là tiên chăng, hay là thần gió, thần hoa đây?”. Tây Sa đáp “Chẳng qua ta chỉ náu mình thôi, chính ta là Tây Sa Tiên Cung, mới nhìn đã biết vợ chồng chị đã tu đắc đạo thành tiên cả rồi. Nay không hẹn mà gặp nhau tại đây, chẳng biết là duyên trời hay tình người nhỉ?” Sau một hồi nói chuyện, Tiên Dung đã kết nghĩa chị em và xe duyên cho Chử Đồng Tử. Từ đó ba người đi chữa bệnh, truyền đạo tiên học được cho dân chúng.

Được tin Vua cha ốm nặng, Ngự y trong triều lực bất tòng tâm, Chử Đồng Tử và Tiên Dung nhờ Tây Sa đóng giả làm bà lang, xin vào Cung để trị bệnh giúp Vua. Được Tây Sa chữa bệnh, Hùng Duệ Vương đã nhanh chóng khỏi bệnh một cách diệu kỳ.

Một lần khi đi chữa bệnh cho dân, dừng chân ở xã Vĩnh Hưng (tức Dạ Trạch ngày nay), cả ba người dừng lại cắm gậy úp nón lên trên dựng lán nghỉ tạm. Nửa đêm, bỗng chỗ đó thành quách mọc lên, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn kéo đến quỳ lạy, nguyện xin làm bầy tôi. Cả một vùng trở nên sầm uất, thịnh vượng như một quốc gia.

Vua Hùng nghe tin cả giận, nghi ngờ Tiên Dung cùng chồng tạo phản, bèn cho quân đi dẹp, bắt về trị tội. Khi thấy quân đội Triều đình vây bắt, Tiên Dung than lên “Bày tôi không bao giờ chống lại Vua, con không bao giờ phản cha. Ta phải làm theo lẽ phải, dù chết cũng cam lòng để tròn hai chữ Trung - Hiếu.”

Suy nghĩ phút giây, Chử Đồng Tử niệm chú, nhổ gậy và nón khỏi mặt đất, lập tức trời đất rung chuyển, lâu đài nguy nga biến mất, Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân hóa về trời, để lại một hố lớn gọi là Trầm, chữ nho là Trầm Nhất Dạ (gọi là Dạ Trạch). Ngày tam vị đồng hóa được ghi lại nhằm ngày 17 tháng 11 Âm lịch.

Được tin dữ này, Hùng Duệ Vương đích thân xa giá về tận nơi xem thực hư sự tình, nghe thần dân địa phương tâu lại sự tình. Bất ngờ trên trời xuất hiện nàng Tây Sa cưỡi hạc trắng, tạ lỗi với Vua Hùng, vua chợt nhận ra ân nhân cứu mạng, sực tỉnh, thương xót các con bèn cho lập đền thờ dọc hai bờ sông Hồng. Ngày nay, Đức Thánh Chử Đồng Tử được thờ tại nhiều nơi trên cả nước.

Đền Hóa Dạ Trạch
Image
Đền Hóa Dạ Trạch còn có tên gọi là đền Dạ Trạch, thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, thờ Chử Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa, Tây Sa Công chúa và Triệu Việt Vương. Đền Hóa Dạ Trạch được xây dựng trên nền cao của lâu đài thành quách xưa, ngay sau khi ba vị hóa về trời.

Vào cuối thế kỷ XIX, đền được trùng tu tôn tạo, do công sức đóng góp của nhân dân tổng Vĩnh và người chỉ huy xây dựng là Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh. Đền Hóa Dạ Trạch lưu giữ nhiều cổ vật như sắc phong, hoành phi câu đối, đại tự. Đặc biệt là chiếc nón và cây gậy - phép biến hóa của Chử Đồng Tử dùng để cứu nhân độ thế. Tượng cá chép, gọi là ông “Bế” (“Bế ngư thần quan”), tạo hình cá chép đang hóa rồng. Chuông “Dạ Trạch Từ chung” (Chuông đền Dạ Trạch), đúc năm Thành Thái thứ 14 (1902) ghi lại quá trình trùng tu di tích.

Trong quần thể di tích có Đầm Dạ Trạch, trước đây rất rộng lớn, là nơi Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương) đóng quân doanh chống quân Lương xâm lược (thế kỷ VI) thắng lợi. Tương truyền, khi quân Minh xâm lược nước ta, nhà Hồ thất thế, Nguyễn Trãi đến đền Hóa Dạ Trạch cầu đảo được thần báo mộng vào Lam Sơn, phò Lê Lợi chống giặc Minh xâm lược.


401292 top -
Trầu Cau
Sáng tác: Phan Huỳnh Điểu
Ca sĩ: Hoàng Oanh - Tốp ca



Lời bài hát
Trầu cau
Ngày xưa có hai anh em nhà kia
Cùng yêu thương ở cùng nhau bỗng đâu chia lìa.
Vì hai người cùng yêu mến một cô gái làng bên,
Nhưng người anh được kết duyên cùng nàng.
Vì như thế nên người em lòng buồn rầu bỏ ra đi khỏi làng...

(Người em: Lang Sinh)
Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu ?
Kìa sông sâu giòng êm reo như gợi mối sầu
nhìn nước cuốn lệ rơi tuôn biết sao vơi niềm riêng
Kìa mây sầu giăng chơi vơi
Làm sao dừng cho nhắn đôi lời
Giòng nước lờ trôi mây trắng cùng trôi qua chốn nao
nơi xa xôi anh say sưa cùng ai đang xe mối tình duyên.
Thôi hết rồi giấc mơ huyền.
Qua bao nhiêu ngày ta đi lang thang bởi vì đâu ?
Ôi ta buồn ta đi quyên sinh cũng vì ai...

(Tiếng vang)
Tang tính tình tính tang tính tình bên sông sâu
tình Lang sinh thành phiến đá sầu thương theo ngày qua
Trông ngóng chờ tin không biết vì sao nên Tân sinh
Ra đi mong tìm em thương yêu nỗi niềm thương nhớ.

(Người anh: Tân Sinh)
Qua bao ngày ta đi lang thang cố tìm em
Giòng sông êm đềm trôi cuốn như vương tiếng buồn
nhìn nước cuốn lệ rơi tuôn
biết sao ngăn niềm thương
Trời xanh cùng mây bay cao
Rừng sâu tìm em biết phương nào ?
Nhìn chốn rừng hoang nghe tiếng rừng vang
trong gió ngàn như than van
Bao nhiêu đau lòng sao ta đâu thấy hình em.
Thôi hết rồi phút êm đềm
Qua bao ngày ta đi lang thang cố tìm em
Ôi ta buồn ta đi quyên sinh cũng vì em.

(Tiếng vang)
Tang tính tình tính tang tính tình tang tính tình
bên sông sâu
Người Tân Sinh gần phiến đá thành cây cau trồi lên Trông ngóng chờ tin không biết chồng sao
Nên bâng khuâng,
trong yêu thương nàng ra đi mong kiếm chồng yêu mến.

(Vợ Tân Sinh)
Đây cây rừng thông reo vi vu bóng chồng đâu ?
giòng sông ơi nào ai sớt cho vơi mối sầu ?
nhìn nước cuốn lệ rơi tuôn
Biết sao vơi niềm thương
Làn mây chiều đang giăng tơ
Nhìn mây lòng man mác mong chờ.
Kìa gío rừng lên xao xuyến lòn g em thương nhớ chàng ôi sao quên ?
Mây ơi xin đừng bay cho ta nhắn vài câu.
Cho thấy chồng bớt nguôi sầu.
ôi đây cây rừng thông reo vi vu biết làm sao ?
Đây hương hồn em xin theo anh đến trời cao.

(Tiếng vang)
Tang tính tình tính tang tính tình tang tính tình
Bên sông sâu, niềm tương tư nàng chốc biến
thành ra dây trầu xanh.
Lưu luyến tình xưa âu yếm trầu leo
Quanh thân cau
Qua bao năm tình thiêng liêng
Thắm cùng mưa nắng...


Truyện đọc minh hoạ - Sưu tầm
Image

TRẦU CAU

Thời Hùng Vương, có gia đình họ Cao sinh hạ được hai người con trai là Cao Tân và Cao Lang giống nhau như đúc, người ngoài khó có ai phân biệt được. Khi hai anh em vừa trưởng thành thì cha mẹ đều qua đời, họ liền đến xin làm học trò của đạo sĩ họ Lưu. Hai người học hành chăm chỉ lại đứng đắn nên được thầy yêu quý như con. Ông Lưu có con gái tuổi chừng mười bảy, xinh đẹp nết na, con gái trong vùng không người nào sánh kịp. Thấy hai anh em đều hiền lành, cô gái đem lòng yêu mến, muốn kén người anh làm chồng, nhưng không biết ai là anh, ai là em.
Một hôm, cô dọn cơm cho hai người nhưng chỉ dọn một đôi đũa. Thấy em nhường anh ăn trước, cô mới nhận ra được ai là anh, ai là em. Sau đó, cô gái nói với cha mẹ cho phép mình lấy người anh làm chồng.
Image

Từ khi có vợ, tình anh em không còn thắm thiết nữa. Cao Lang rất buồn, nhưng Cao Tân vô tâm không để ý đến. Một hôm hai anh em cùng lên nương, tối mịt mới về, Cao Lang vào nhà trước nhưng vừa bước vào thì chị dâu tưởng là chồng, vội ôm chầm lấy. Cao Lang kêu lên, cả hai đều xấu hổ. Giữa lúc ấy, người anh cũng bước vào. Từ đấy Cao Tân ngờ em có tình ý với vợ mình nên càng hững hờ với em hơn trước.
Một hôm, anh chị đều đi vắng, Cao Lang ngồi một mình và cảm thấy cô quạnh, buồn tủi nên lặng lẽ ra đi. Đi mãi đến khu rừng âm u. Ðến một con suối rộng và sâu, không thể lội qua được, Cao Lang đành ngồi bên bờ. Chàng khóc mãi, khóc mãi rồi biến thành một tảng đá.
Image

Cao Tân về không thấy em liền lẳng lặng đi tìm mà không nói cho vợ biết. Chàng đi mãi, đi mãi và cũng đến con suối vừa rộng vừa sâu không thể lội qua. Chàng ngồi tựa mình vào tảng đá mà có ngờ đâu chính tảng đá ấy là em mình. Chàng rầu rĩ khóc than rồi ngất đi và chết cứng, biến thành một loài cây không cành, mọc thẳng bên tảng đá.
Image

Người vợ không thấy chồng, vội đi tìm và cũng theo đường mòn đi vào rừng thẳm. Nàng đi mãi con suối vừa rộng vừa sâu, ngồi tựa vào gốc cây không cành mọc bên tảng đá, vật mình than khóc. Nàng có ngờ đâu nàng đã ngồi tựa vào chồng mình và sát đó là em chồng. Nàng chết và hóa thành loài cây leo quấn chặt lấy cây không cành mọc bên tảng đá.
Image

Một hôm, Vua Hùng đi qua chỗ ấy, nhân dân đem chuyện ba người kể lại. Vua nghe và bảo thử lấy lá của loài cây leo và lấy quả của loài cây không cành nghiền với nhau thì thấy có mùi cay cay. Vua Hùng nhai thử thì thấy thơm ngon và nhổ vào tảng đá thì thấy nước biến dần ra sắc đỏ. Nhân dân gọi loài cây không cành mọc thẳng kia là cây cau, loài cây dây leo kia là cây trầu, lại lấy tảng đá ở bên đem về nung thành vôi để ăn với trầu cau, miệng thơm, môi đỏ.
Image

Bởi trọng tình nghĩa của ba người, tổ tiên ta hễ gặp nhau là mời trầu, luôn coi miếng trầu là đầu câu chuyện. Trong lễ vật, dù là bình thường hay cao sang nhất, thiếu gì thì thiếu, quyết không thể thiếu trầu cau.
Image


401965 top -

Chào Đại hiệp,

Sẽ là một fan của trang này. Mong Đại hiệp cứ tiếp tục.

Tại hạ có ý định khi thảnh thơi về thời gian, sẽ viết nhạc về giai đoạn huyền sử của Việt Nam, vì huyền sử cho phép người viết rộng tay trong suy tưởng, thể hiện.

Đa tạ Đại hiệp.


401972 top -
Đọc và nghe Sử diễn ca Việt Nam
1, 2, 3, 4


PayPal về email:
[email protected]


Chi phiếu gửi về:
Jimmy Ton
4369 46 St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

Image
Image